• MÓN ĂN CHAY DINH DƯỠNG
  • HỎI ĐÁP VỀ VẤN ĐỀ ĂN CHAY
  • NHỮNG CÂU CHUYỆN LUÂN HỒI ĐẦY BÍ ẨN
  • Người theo dõi

    Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

    Tiêu Nghiệp Chướng thành tựu Vô Thượng Bồ Đề ( Tiết thứ 3 )

    Lợi ích của việc thụ Minh Sư một chỉ, đắc được Tam Bảo 





    “ Kim Cang Kinh, phần thứ 16 ” nói rằng : “ Như có trang nam-tử, thiện nữ-nhân nào, thọ-trì, đọc-tụng, kinh nầy, lại bị người khinh-tiện; thì những tội nghiệp đã gây ra trong đời trước, người ấy đáng lẽ sẽ phải đọa vào ác-đạo, nhưng bởi trong đời nay, bị người khinh-tiện, nên tội-nghiệp đã gây ra trong đời trước đó, liền được tiêu-diệt, người ấy sẽ đặng đạo Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác ”.


    Ý nghĩa chủ yếu nhất của đoạn kinh văn này là ở chỗ “ thọ-trì, đọc-tụng kinh nầy, người ấy sẽ đặng đạo Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác ”. “ Vô thượng chánh đẳng chánh giác ” còn gọi là “ vô thượng bồ đề ” – Phật.
    Nói một cách thẳng thừng : “ thọ trì, đọc tụng kim cang kinh thì sẽ đặng thành phật ”.




    Kinh văn lại nói rằng : “ Phật-pháp nói đó chính chẳng phải là Phật-pháp. ” ( gọi là Phật-pháp, tức chẳng phải Phật-pháp ) thì tức là văn tự chẳng phải là văn tự. Văn tự là “ Chỉ ” ( ngón tay ) , mục đích ở chỗ giải thích nói rõ mục tiêu và phương pháp. Điều quan trọng là phải có thể từ văn tự nâng khởi sự quán chiếu, mục tiêu cuối cùng nhất là phải chứng đắc được “ Thật Tướng ” – Trăng. Do vậy, đọc tụng thì nên có thể "phản văn văn tự tánh " (  xoay trở lại nghe nơi tự tánh,  là quay cái nghe lại, nghe tự tánh mình niệm ), tiến đến chứng đắc tự tánh kim cang kinh.

    Chúng ta đắc thụ một chỉ của Minh Sư, tức là chỉ thụ ( chỉ điểm dạy cho ) diệu pháp phản văn chứng tánh.

    Thế nhưng, theo “ Kim Cang Kinh – phần thứ 16 ” đã nói, tuy thọ trì đọc tụng kinh này, trong quá trình tu hành, “ lại bị người khinh-tiện; thì những tội nghiệp đã gây ra trong đời trước, người ấy đáng lẽ sẽ phải đọa vào ác-đạo, nhưng bởi trong đời nay, bị người khinh-tiện, nên tội-nghiệp đã gây ra trong đời trước đó, liền được tiêu-diệt, người ấy sẽ đặng đạo Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác ”.

    Như lúc đạo thân cầu đạo, đều có sự dẫn tiến của Dẫn Sư chứng minh người ấy thân gia thanh bạch, phẩm hạnh đoan chánh. Còn các Tiền Hiền cũng bảo với chúng ta rằng có thể đắc được một chỉ điểm của Minh Sư đều là những người luỹ kiếp đã có tu, thiện căn sâu dày, rộng gieo phước đức.

    Điều khiến cho người ta không hiểu chính là khi mở pháp hội thì lại vẫn còn có việc các oan nghiệt mượn khiếu để đòi nợ xảy ra. Chẳng phải là căn cơ tốt thì mới có thể cầu đạo hay sao ? Vì sao lại còn có các oan nghiệt hiện ra trước mắt vậy ?

    Nếu như hiểu rõ về luật nhân quả, thì sẽ không khó hiểu duyên cố bên trong đó. Luật nhân quả là Những nhân duyên nào chín muồi trước thì sẽ thọ báo trước; những nghiệp lực, niệm lực nào mạnh thì chắc chắn sẽ chín muồi trước.

    Chúng ta có thể đắc thụ chỉ điểm của Minh Sư, là do cái nhân thiện tốt lành đã gieo trồng xuống trong kiếp quá khứ, kiếp này thiện duyên chín muồi mà đắc thụ Minh Sư chỉ điểm. Vấn đề là tuy đã đắc thụ Minh Sư chỉ điểm rồi, vì sao vẫn còn bị người khinh tiện vậy ? Bởi vì những cái nhân xấu ác cũng liên tục lần lượt đang chín muồi hiển hiện ra trước mắt rồi.

    Khi chúng hiển hiện ra trước mắt, chính là đang cảnh cáo, nhắc nhở chúng ta phải hết sức mau chóng cẩn thận tâm niệm, phản văn văn tự tánh, “ suốt ngày luyện thần quang ”. Nếu những cái nhân xấu ác dần dần chín muồi hiển hiện ra trước mắt, lại có cái tâm tam độc làm sự trợ duyên, vậy thì hậu quả bèn sẽ khó lường rồi ( tệ đến cực điểm ) , sao có thể không cẩn thận tâm niệm đây ?

    Tu đạo có thể thay đổi vận mệnh, đấy là sự thật vô cùng xác thật. Thế nhưng nguyên lý thay đổi vận mệnh thì nhất định phải hiểu, nếu không thì tuy rằng tam thí ( tài thí, pháp thí, vô uý thí ) song tiến mà vẫn cứ mọi việc chẳng thuận, cái tâm oán trách khởi lên, lẽ nào chẳng phải bi thảm lắm sao ?

    Thông thường nói “ nhân quả ”, thật ra là sự nói tắt của “ nhân duyên quả báo ”. Nếu như dựa vào nhân quả ba đời để nói, “ Nhân ” ở trong kiếp quá khứ đã gieo trồng xuống, là chẳng cách nào thay đổi, nhưng mà từ nhân cho đến kết thành quả thì nhất định cần phải cậy nhờ vào tác động của các trợ duyên mà gặp ( bị ) thọ báo.

    Ví dụ như một hạt giống ( nhân ), nếu như chẳng có các sự trợ duyên như thổ nhưỡng, nước, ánh sáng mặt trời, không khí, thì vĩnh viễn chỉ là một hạt giống. Nếu như nhân duyên đầy đủ, chắc chắn có thể mọc rễ, nảy mầm, sinh cành, nở hoa, kết quả. Nếu lại cộng thêm sự khéo giỏi trong việc trồng trọt vun bồi, sự trợ duyên càng mạnh thì tất nhiên trái ngọt xum xuê. Nếu chẳng giỏi khéo việc vun trồng, chẳng siêng việc bón phân, để cho những cỏ dại mọc um tùm ( ác duyên ) , lại mong đợi quả trái xum xuê thì cũng chỉ là sự không tưởng mà thôi !

     Do vậy, có thể thay đổi vận mệnh hay không, sự quyết định là ở “ duyên”. Trợ duyên quan trọng nhất chính là tâm niệm, thiện hành, hoàn cảnh môi trường, trong số đó thì đặc biệt lấy tâm niệm là thứ quan trọng nhất. Nếu đã có thể tồn thiện niệm, tất nhiên sẽ có những thiện hành, những người như vậy thì còn phải lo lắng họ sẽ đi đến những nơi không tốt sao ?

    Từ đây có thể biết rằng, có thể thường tiếp cận phật đường ( môi trường ) , học tập liễu nguyện, nội ( tâm niệm ) ngoại ( thiện hành ) công song tiến, vận mệnh làm sao mà lại không thay đổi được ? Nếu có thể tinh tiến không ngừng, thì nào chỉ có thay đổi vận mệnh không thôi đâu ? chắc chắn nhất định có thể thành phật đạo.




    Các tu sĩ Bạch Dương có duyên đắc thụ Minh Sư một chỉ,
    một hạt giống thành phật,
    gieo trồng ở bên trong mẫu ruộng thức thứ 8
    Những đệ tử Bạch Dương thật tu,
    tưới loại nước thành tâm cung kính,
    bón loại phân cảm ân, tri túc ( biết đủ, biết hài lòng thoả mãn với những gì đang có )
    lại dùng loại xẻng nhiệt tình tận tuỵ hết lòng
    trừ nhổ sạch hết những nhân tâm lạnh lùng vô cảm,
    tinh tấn siêng năng bắt bỏ những sâu bệnh của tam độc
    nhẹ nhè rửa đi những ô uế bẩn thỉu của sáu trần
    để những đoá hoa bồ đề nở muôn sắc màu sặc sở tươi rói
    ở trong mẫu ruộng tâm của pháp giới
    kết ra những phật quả thanh tịnh trang nghiêm.




    Tiết thứ 4 : Đời người hạnh phúc mĩ mãn



    Nói đến việc siêu sanh liễu tử, tránh kiếp tị nạn, thậm chí thành tựu vô thượng bồ đề, có lẽ có người cho rằng chẳng thiết thực tế, những chuyện của vị lai, chúng ta bèn tạm thời chẳng bàn đến, bây giờ nói về những cái khá là thực tế hơn.

    Có thể thụ Minh Sư một chỉ, cầu đắc được Tam Bảo, thật sự có thể dựa theo tam bảo tâm pháp để tu trì, trì giữ giới luật, dùng thái độ nghiêm khắc để giới hạn, chế ngự bản thân, chẳng vi phạm làm trái ngược với thiên lí lương tâm, không phạm giới, nội tâm tự nhiên sẽ điềm tĩnh, tự tại, giải thoát.

    Có thể dựa theo pháp tu trì, thì những vọng tưởng, chấp trước chắc chắn sẽ mỗi ngày dần dần tiêu vong mất đi, đối với đủ thứ các kiểu tình thái, sự việc của thế gian cũng có thể dùng thái độ điềm nhiên bình tĩnh mà đối mặt xử lí, những niệm được mất đều chẳng tồn nơi tâm, giũ rơi sạch những tục khí hồng trần của toàn thân, tuy ở trong cõi trần nhưng cản giới lục trần chẳng nhiễm chẳng tạp, đấy là sự thanh thản tự tại biết bao nhiêu !

    Có thể dựa theo pháp mà tu trì, tâm tồn những niệm từ bi, chỗ nào cũng nghĩ nhớ vì chúng sanh, noi theo tâm nguyện của Bồ Tát “ chỉ nguyện chúng sanh được rời khổ, chẳng vì bản thân cầu an vui ”, kết quả là “mình đã vì người, mình càng có, mình đã cho ( giúp ) người , mình càng nhiều ”, người mà có thể rộng bố lòng yêu thương thì đắc được sự hồi báo của tình yêu thương càng nhiều. Người mà thường hay quan tâm đến người khác thì sự quan tâm mà mình nhận lại được sẽ càng nhiều hơn cái mà mình đã bỏ ra.

    Sự thành tựu của hợp đồng ( tề tâm hiệp lực, tương đồng ) nhất định cần phải có đức hạnh của sự khiêm tốn, khiêm hạ, bao dung. Có thể khiêm tốn mới có thể bao dung tiếp nhận tất cả, có thể khiêm hạ mới có thể được người kính mến bội phục, cáo thể bao dung mới có thể nhận được sự yêu thương và tôn kính.

    Có thể đem tam bảo ứng dụng vào trong cuộc sống thường ngày thì chắc chắn có thể xử sự viên dung, quan hệ nhân sự hài hoà, cả nhà cực kì vui vẻ hoà thuận, đời người như thế làm sao mà không hạnh phúc mĩ mãn đây ?

    Tránh Kiếp Tị Nạn ( Tiết thứ 2 )

                 Lợi ích của việc thụ Minh Sư một chỉ điểm đắc được 
      Tam Bảo

    Kiếp nạn lớn nhất : Sự sanh tử luân hồi

    Trong số các đạo thân, thường sẽ có những sự cảm ứng thù thắng của việc tránh kiếp tị nạn. Có một số các đạo thân đã xảy ra kiếp nạn rồi, nhưng mức độ bị thương ( tình trạng thương tật ) thì lại nhỏ nhẹ nằm ngoài những sự dự đoán, hoặc cơ hồ dường như chẳng có tí ti tổn hại nào, đủ thứ các loại hiển hoá của việc thoát chết, thật không sao kể xiết. Những sự hiển hoá này đều là lẽ thường chẳng cách nào giải thích nổi, đấy hoàn toàn là nhận được sự gia bị của Thiên Ân Sư Đức, sự từ bi cứu trợ của phật bồ tát, thậm chí đến mức là Thầy vì chúng ta gánh vác lấy. Thế nhưng chúng ta nhất định cần phải hiểu rằng, sự gánh vác thay của Thầy là cái mang tính tạm thời, vẫn cần phải tự chúng ta hành công lập đức để hoàn trả lại các món nợ của luỹ kiếp.

    Chúng ta càng nên hiểu rõ rằng sự phát sinh của kiếp nạn là do đến từ những cái nhân xấu ác trong các kiếp quá khứ đã tạo xuống. Sở dĩ tạo xuống những cái nhân xấu ác, là do những sự tham, sân, si của từ vô thỉ kiếp đến nay, thông qua sự tạo tác của 3 nghiệp thân, khẩu, ý mà đến. Nếu đã tạo xuống các nghiệp ác, thì tất nhiên sẽ có những quả ác xấu,đấy là việc của cái lẽ đương nhiên, là cái đạo lí chẳng thể thay đổi ở giữa đất trời.


    Thường hay nói rằng : “ Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả ”, chúng sanh chẳng có ai là không hy vọng cố hết mức tối đa không rơi vào nhân quả, thế nhưng “ Kinh Hoa Nghiêm ” bảo với chúng ta một cách rõ ràng rằng :  “ giả sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ ” ( Dịch nghĩa : “ Giả sử trăm nghìn kiếp, nghiệp đã tạo không bao giờ mất. Nhân duyên khi gặp gỡ, quả báo lại phải chịu ” )


    Do vậy, đối với quả báo thì nên tiếp nhận một cách cam nguyện, đấy mới gọi là bất muội nhân quả.






    Bách Trượng Thiền Sư có một hôm giảng kinh kết thúc, có một cụ già nán lại để thỉnh giáo ngài ấy một vấn đề. Cụ già biểu rõ rằng ông ta vốn dĩ cũng là một vị pháp sư, chỉ bởi vì đã từng có một vị tín đồ hỏi ông rằng : “bậc đại tu hành có rơi vào nhân quả hay không ? ”. Ông ta trả lời rằng : “ không rơi vào nhân quả ”, kết quả lại rơi vào quả báo đoạ mang thân chồn  đã 500 năm, rốt cuộc là vì sao ? Bách Trượng Thiền Sư nói : “ Để ta đóng vai ông, ông hỏi lại ta cùng một vấn đề đó ” . Cụ già bèn hỏi : “ xin hỏi bậc đại tu hành có rơi vào nhân quả hay không ? ” Bách Trượng Thiền Sư đáp rằng : “ bất muội nhân quả ” ( tạm dịch : không mê muội nhân quả ) . Lúc đó, lão già chợt đại ngộ, vái lạy hòa thượng Bách Trượng và nói: như thế thì tôi đã thoát được kiếp chồn. Xác của tôi bỏ lại nằm ở sau núi. Xin thầy hãy lấy lễ chư tăng mà chôn cất cho ”.


    Lại có vị tu hành cực kì là tinh tấn. Có một hôm, một vị cao nhân chỉ điểm cho ông ta rằng : “ ngày mai sẽ có một bọn cường đạo đến thôn để cướp giật, mà còn ông thì kiếp trước đã giết tên đầu sỏ băng nhóm cường đạo ấy 16 nhát dao, nếu ông không mau trốn khỏi, sẽ phải chết dưới dao của tên cầm đầu băng nhóm cướp giật ”.
    Vị tu hành ấy nói rằng : “ nếu đã là nghiệp ác của kiếp trước đã tạo xuống, tôi quyết định không đi, cam nguyện chịu báo để liễu dứt một món nợ nghiệp ”.
    Ngày hôm sau, vị tu hành chuẩn bị một bàn tiệc trưa vô cùng thịnh soạn, chờ đợi sự đến của bọn đạo tặc. Đến giữa trưa, bọn đạo tặc quả thật đã đến một cách rất hùng hổ. Lúc này những người trong thôn toàn bộ thảy đều đã chạy hết sạch, chỉ sót lại vị tu hành này chẳng chạy đi, vả lại lại còn mở to cửa, cung nghênh đại giá của băng nhóm cường đạo này. Bọn cường đạo này vừa mới vào cửa đã giật bắn cả người, hỏi một cách kinh ngạc rằng : “ vì sao ông không chạy đi ? ”.
    Vị tu hành nói rằng : “ tôi đặc biệt ở lại để cung kính chờ đợi sự đại giá quang lâm của các vị, xin hỏi trong số các vị có vị nào họ Vương ?  ”.
    “ Là ta đây ! Có việc gì không ? ” tên đầu sỏ băng nhóm đạo tặc trả lời, tiếp đó lại nói : “ ta đến để cướp giật đấy, cớ sao lại đợi ta vậy ? ”.
    Vị tu hành giải thích nói rằng : “ Kiếp trước tôi đã giết ông 16 nhát dao, kiếp này lẽ ra nên thọ báo, đã định sẵn là chết dưới đao của ông. Hôm nay tôi đặc biệt đã chuẩn bị một bàn tiệc với các món ăn thịnh soạn, mời mọi người dùng, sau đó giết chết tôi để liễu dứt một đoạn nhân quả ”.
    Tên cầm đầu bọn đạo tặc nghe rồi bèn mau chóng giác tri sự đáng sợ của nhân quả, nghĩ đến việc mình kiếp này đã giết người vô số, kiếp sau lẽ nào chẳng phải là phải bị nghìn dao róc ( xẻo ) thịt đó sao ? Nghĩ đến đây, bất giác sởn cả gai óc ! Tên đầu sỏ băng nhóm đạo tặc kiên trì khăng khăng không giết người tu hành, thế nhưng vị tu hành thì lại cứ khăng khăng dai dẳng muốn liễu dứt nhân quả.
    Cả hai người khăng khăng cương quyết chẳng nhượng bộ nhau, được một hồi, tên đầu sỏ bực quá chẳng chịu nổi nữa, dùng sống dao ( phần lưng của con dao, trái với lưỡi dao ) giết người tu hành 16 nhát dao, xem như là đã đoạn dứt đoạn nhấn quả này rồi, vị tu hành cũng vì thế mà đã miễn được một cái chết. Còn những đạo phỉ này từ đấy trở đi cũng chẳng dám làm nghề cướp giật nữa.


    Kiếp nạn lại có thể chia làm 3 phương diện : tánh, tâm, thân, nhưng cái mà những người bình thường hay nhấn mạnh, quan tâm phần lớn đều thiên nặng ở kiếp nạn của “ thân ”, đấy là sự bỏ gốc theo ngọn.

    Nên biết rằng tánh chẳng mê, vọng chẳng khởi tâm, thân lại làm sao mà tạo nghiệp đây ? Do vậy, Hoạt Phật Lão Sư chỉ thị rõ ràng rằng “ tu đạo tu tâm ”, quả thật là phương pháp giải quyết căn bản gốc rễ, thẳng thừng trực tiếp.

    Chúng ta đắc thụ chỉ điểm của Minh Sư, Thầy truyền cho chúng ta Tam Bảo, nên biết rằng Tam Bảo là pháp bảo để tu trì thành phật, phải khéo dùng tam bảo để hàng phục cái tâm vọng tưởng. Nếu chẳng khởi vọng tâm, chẳng tạo nghiệp ác, thì ở đâu mà lại có những quả ác xấu đây ?đương nhiên những kiếp nạn do nhân quả tạo thành cũng bèn sẽ chẳng phát sinh rồi.

    Từ đây có thể biết rằng, cái mà Thầy đã truyền thụ cho chúng ta là phương pháp tránh kiếp tị nạn căn bản gốc rễ nhất. Tuyệt đối chớ có chỉ cho rằng kiếp nạn xảy đến mới hy vọng nương nhờ vào thần lực của Tam Bảo để tránh kiếp tị nạn, bởi vì đấy là điều có thể mong đợi ( có thể xảy đến tình cờ do may mắn ) chớ chẳng thể cưỡng cầu được, vả lại không phải là điều tuyệt đối, có lúc vẫn còn phải xem coi chủ nợ có bằng lòng tiếp nhận sự điều giải hay không, nếu không thì Thầy cũng chẳng còn cách nào khác.

    Có thể vọng chẳng khởi tâm, tất nhiên sẽ an tường tự tại, được sự giải thoát lớn, tiến đến liễu dứt sự sanh tử của sáu nẻo luân hồi, tránh khỏi kiếp nạn lớn của sáu nẻo luân hồi, siêu phàm nhập thánh, viên dung vô ngại.

    Siêu Sanh Liễu Tử ( Tiết thứ 1 )

     Lợi ích của việc thụ Minh Sư một chỉ điểm đắc được                                               (Tam Bảo )
    Tiết thứ 1 : Siêu Sanh Liễu Tử

    Muốn siêu sanh liễu tử, trước tiên nhất định cần phải biết nguyên nhân tạo thành sanh tử. Nguyên nhân tạo thành sự sanh tử là cái gì đây ? chính là những “ vô minh vọng tưởng ”, còn phương pháp của siêu sanh liễu tử chính là “ trực tâm ”, “ chơn tâm ”. “ trực tâm ”, “ chơn tâm ” là cái “ tâm thanh tịnh ”, cũng chính là “ Vô Niệm ”. “ Vô Niệm ” chẳng phải là chẳng có niệm đầu.


    “ Lục Tổ Đàn Kinh ” nói rằng : “ VÔ là VÔ NHỊ TƯỚNG (pháp đối đãi), VÔ tất cả tâm trần lao. NIỆM là NIỆM CHƠN NHƯ BẢN TÁNH  ”
    Nếu quả thật có thể đạt đến cản giới Vô Niệm, thì chẳng hai chẳng khác với Phật.

    “ Lục Tổ Đàn Kinh ” lại nói rằng : “ kẻ ngộ pháp VÔ NIỆM thông đạt vạn pháp, ngộ pháp VÔ NIỆM thấy được cảnh giới chư Phật, ngộ pháp VÔ NIỆM được đến địa vị Phật  ”

    Nếu đã rằng : “ tự tánh có thể bao hàm vạn pháp, vạn pháp ở bên trong tự tánh ” thì lại vì sao chúng ta không thể thông đạt vô ngại vậy ? Vì sao chẳng thể liễu liễu phân minh ? Vì sao không thể trong ngoài tỏ triệt ? Đấy là bởi vì có quá nhiều những vọng tưởng, đến mức chẳng cách nào rõ ràng nơi tâm. Hễ một khi hàng vọng hiển chơn, thì có thể “ thấy được cảnh giới chư phật, đến được địa vị phật ”.


    “ Kinh Lăng Nghiêm ” nói rằng : “ tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, sanh tử liên tục, chỉ vì chẳng biết chơn tâm thường trụ, thể tánh trong sạch sáng tỏ, lại nương theo vọng tưởng, vọng tưởng chẳng chơn nên có luân hồi. Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm, vì tâm hạnh và lời nói ngay thẳng, như thế từ đầu đến cuối, cho đến các ngôi bậc, ở khoảng giữa chẳng có các tướng quanh co ”

    “ Chơn tâm ” chính là Tự Tánh, bởi vì không thể thường trụ tự tánh thanh tịnh, vô minh vọng niệm chẳng đoạn dứt, chính là cái gọi là “ một niệm đầu, một luân hồi ”, do vậy mà đời đời kiếp kiếp thường ở trong sự luân hồi. Còn mười phương chư phật Như Lai lại làm thế nào để liễu dứt sanh tử đây ? “ Kinh Lăng Nghiêm ” lại nói rằng : “ Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm ”

    Phương pháp mà mười phương chư phật Như Lai ra lìa khỏi sự sanh tử chính là “ thường trụ chơn tâm ” – thanh tịnh mà thôi, đấy cũng là căn cứ lí luận của vì sao mà một chỉ liễu dứt sanh tử. Do vậy, phàm là các đệ tử Bạch Dương chúng ta, đắc thụ Minh Sư chỉ điểm thì vào ngay lúc ấy của một chỉ, tức đã siêu sanh liễu tử. Do đó Thầy Tế Công Hoạt Phật nói : “con nay được một chỉ, phiêu phiêu nơi thiên đường, chẳng có sanh và tử”. Thế nhưng cũng chớ có quên mất lời dặn dò phó chúc của Ân Sư rằng : “ con nếu như Nguyện chẳng thể liễu, khó mà về cố hương ”, ngay lúc chúng ta đắc thụ một chỉ điểm, sau một niệm thanh tịnh, thì lập tức liền theo đó “ xúc ý tức tà thiên, rơi vào đệ nhị kiến, sanh tử chuyển, uổng phí Minh Sư tâm pháp truyền ”. Do vậy, Ân Sư đặc biệt dặn dò nhất định cần phải “ suốt ngày luyện thần quang ”.

    Phàm các đệ tử Thiên Đạo chúng ta, đối với một chỉ siêu sanh nên có lòng tin sâu “ các cá giai đắc hoàn hương đạo ” ( mỗi người đều đắc được con đường trở về cố hương ) , Phật tuyệt đối chẳng vọng ngữ.
    “ Kinh Di Lặc Thượng Sanh ” nói rằng : “ nếu ai được nghe danh hiệu đại Bồ-tát Di Lặc mà hoan hỷ cung kính, lễ bái, những người này sau khi chết, chỉ trong khoảng khảy móng tay liền được vãng sanh ”.

    Nếu như đối với sự thật về một chỉ liễu sanh tử vẫn chưa tin tưởng nổi, đọc một đoạn kinh văn này của “ Kinh Di Lặc Thượng Sanh ” chắc rằng có tể tăng thêm một chút lòng tin cho bạn.

    Vào cái hôm cầu đạo, chúng ta đều đã được nghe thánh hiệu “ Di Lặc ”,những Tiền Hiền mà có thể thường quay về phật đường để liễu nguyện thì chắc rằng đối với đạo đã ít nhiều phát sanh một chút lòng tin mà tâm sanh “ hoan hỷ ”, chỉ cần về phật đường, lễ tham giá, từ giá là việc không tránh khỏi, hành lễ thì điều quan trọng nhất là tâm tồn “ cung kính ”. Như thế điều kiện tối thiểu nhất để vãng sanh Di Lặc Tịnh Độ - được nghe thánh hiệu Di Lặc, hoan hỷ, cung kính lễ bái, viên mãn có đầy đủ. “Những từ điểm đạo ” nói rằng : “ con nếu như Nguyện mà chẳng thể liễu, khó mà về cố hương ”, nói cách khác, nếu có thể liễu nguyện thì chắc chắn có thể trở về lại cố hương. Đạo lí là ở đó.


    Nếu như bạn vẫn cho rằng làm gì mà có cái chuyện dễ dàng như vậy, thì ở đây giới thiệu một pháp môn càng rộng hơn so với điều kiện vãng sanh Di Lặc Tịnh Độ, chính là pháp môn Tịnh Độ.
    Căn cứ vào “ Kinh Vô Lượng Thọ ” đã ghi chép, điều nguyện thứ 18 trong số 48 đại nguyện của Phật A Di Đà : “ Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương dốc lòng tin tưởng, muốn sinh về cõi nước con chỉ trong mười niệm, nếu không được toại nguyện, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác, trừ kẻ phạm năm tội nghịch và gièm chê chính pháp  ”.


    Kinh A Di Đà ghi chép rằng : “ Nếu có người trai lành, người gái thảo nào nghe nói về đức Phật A Di Đà, cố gắng chuyên trì tên hiệu Ngài: hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm bất loạn, thì người ấy khi lâm chung sẽ được đức Phật A Di Đà cùng các bậc Thánh, hiện ra trước người ấy, người ấy khi chết tâm không điên đảo, liền được sinh sang cõi nước cực lạc của đức Phật A Di Đà ”

    Vào lúc lâm chung, có thể niệm mười tiếng phật hiệu ( cũng có nhận định rằng mười niệm phật nên là : một niệm mười câu phật hiệu, mười niệm là một trăm câu phật hiệu ) , niệm được nhất tâm bất loạn, Phật  A Di Đà tức sẽ đến tiếp dẫn.

    Những điều kiện như thế, so với Thiên Đạo vãng sanh Di Lặc Tịnh Độ thì đơn giản hơn rất nhiều rồi. Tuy nói là vậy, nhưng nói đến mức độ bảo đảm vững chắc thì quả thật là Thiên Đạo khá là bảo đảm vững chắc. Sự thật bảo với chúng ta rằng rất nhiều các đạo thân vào trước lúc vẫn chưa đứt hơi thì biểu thị Lão Tổ Sư và thầy Tế Công Hoạt Phật đã đích thân đến tiếp dẫn rồi, do vậy mà những người vãng sanh phần lớn đều mỉm cười vãng sanh, thân thể mềm mại như sợi bông, mùa đông không thẳng cứng, mùa hè không thối rữa. Các ví dụ thực tế đều rất nhiều, thật không sao kể xiết.

    Quan sát từ một góc độ khác của mười niệm phật, điều kiện tuy đơn giản, thế nhưng lại không dễ đạt thành, nhất định cần phải như những điều mà Pháp Sư Tịnh Không đã nói : “ nhất định cần phải ” :

    Thứ nhất, lúc lâm chung đầu óc tỉnh táo rõ ràng chẳng mê
    Thứ hai, lúc lâm chung có thiện tri thức nhắc nhở hãy mau chóng niệm phật.
    Thứ ba, hễ nghe thấy thì nhanh chóng giác ngộ tiếp nhận.

    Ba điều kiện này muốn viên mãn có đủ thì thật quá khó khăn rồi, do vậy pháp sư lại nói : “ ba điều kiện này trong nghìn vạn người khó được có một người ”

    Kinh Di Ðà dạy: “ không thể chỉ có một chút nhân duyên phúc đức thiện căn mà được sinh sang cõi nước Phật kia! ”

    Sự đời có  ai tránh được hai chữ “ Vô thường ”

    Xưa kia có vị viên ngoại, ngày thường thì niệm phật rồi, đã niệm đến cảnh giới tương đương. Khi lâm chung, lại có rất nhiều các vị đồng tu, bạn thân ở bên cạnh trợ niệm. Vị viên ngoại đột nhiên nói một cách rất vui mừng rằng : “ nhìn thấy rồi ! nhìn thấy rồi ! ”, nhìn thấy ai đây ? đương nhiên là thấy Phật A Di Đà. Lúc này, cô vợ lẽ thứ hai nhận được tin Viên Ngoại lâm chung, từ ngoài vội vàng trở về, mới vào cửa đã khóc thút thít. Vị Viên Ngoại nhất thời tâm động, lâm chung một niệm chẳng thanh tịnh, Phật A Di Đà bèn chẳng thấy nữa rồi.

    Có vị đạo thân trước lúc lâm chung, người thân đều vây quanh bên mình anh ta, trong miệng anh ta đột nhiên thốt ra một câu : “ Thầy đã đến rồi, mọi người hãy mau tiếp giá ”. Đợi khi mọi người tiếp giá xong đứng lên thì vị đạo thân này đã đi theo Thầy rồi. Những ví dụ tương tự như vậy quả thật là quá nhiều rồi.

    Chúng ta nhất định cần phải tin chắc rằng, kiếp này chỉ cần đắc thụ một chỉ của Minh Sư, đắc được Tam Bảo, mệnh chung nhất định vãng sanh Di Lặc Tịnh Độ, chỉ sợ là bạn tin chẳng nổi, lập nguyện chưa liễu, thì : “nguyện mà chẳng thể liễu, khó mà về cố hương ”.