• MÓN ĂN CHAY DINH DƯỠNG
  • HỎI ĐÁP VỀ VẤN ĐỀ ĂN CHAY
  • NHỮNG CÂU CHUYỆN LUÂN HỒI ĐẦY BÍ ẨN
  • Người theo dõi

    Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

    Tu Thiên Đạo Phải Bắt Đầu Từ Nhân Đạo




    I. Lời Nói Đầu
    Sống ở đời điều trước tiên là nên hiểu rõ Thiên thời, hiểu rõ bổn phận của chính mình, đứng thẳng mà lập tài năng ở đời. Người hiện nay, không hỏi Thiên thời, một lòng một dạ chắt chiu chủ nghĩa công danh lợi lộc, thử hỏi như vậy XH có yên ổn được chăng? Chỉ lo cho sự yên vui của cá nhân, hướng tâm vào danh lợi, nào nghĩ đến việc tổn hại nhân cách, người tranh ta đoạt, tạo ra nguy cơ hủy diệt của thế giới. Làm cho đời them rối ren xao động. Chúng ta cũng biết, hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển đến cực điểm, đồng thời đã không còn cách cứu vãn, những uy lực đó đủ để làm cho thế giơi bị hủy diệt không còn sót lại tí gì, con người chỉ biết đến lợi nhưng không hề biết đến hại, không biết sinh mạng của sinh linh khắp nơi chỉ trong một sớm một chiều. Hiện nay chính là lúc vạn vật đang bị nguy hiểm bởi nguy cơ bị hủy diệt.
    II. Nội Dung
    - Mạnh Tử rằng: ‘‘Khi thiên hạ bị chìm đắm thì lấy Đạo lại cứu vớt’’. Chúng ta tuổi tác còn trẻ, lại được hưởng một nền giáo dục cao, thân là một kẻ sĩ, nên biết địa vị của mình trong xã hội, kẻ sĩ đứng đầu trong tầng lớp thứ dân, sĩ khí hưng nước nhà mạnh; sĩ khí suy, nước nhà yếu.
    - Tăng Tử rằng: ‘‘Kẻ sĩ không thể không hoằng nghị, trách nhiệm lớn đường đi được xa. Lấy điều nhơn làm trách nhiệm của mình, há chẳng lớn ư? Chết không hối tiếc há chẳng xa ư?
    - Khổng Tử rằng: “Kẻ sĩ mà thích nhàn cư, không đủ được gọi là kẻ sĩ.” Chúng ta nay đã cầu Đạo rồi, càng nên gánh lấy trách nhiệm cấp bách cứu đời cứu kiếp, ưu lo cho cái ưu lo của đời, nắm bắt tốt thời vận.Tục ngữ có câu: “Thời loạn tạo Thánh Hiền”. Người có ăn học chí nơi Thánh Hiền, lúc này chính là thời cơ tốt để thành tựu Thánh nghiệp. Quá khứ Thánh Hiền Tiên Phật, đã xả bỏ vinh hoa phú quý, chỉ một lòng một dạ lo cứu đời cứu kiếp, vì vậy chúng sinh đã bày tỏ lòng tưởng nhớ đến ân trạch của các Ngài bằng cách xây cất chùa chiền thành tâm cúng bái kính ngưỡng. Hiện nay người ăn học rất nhiều, nhưng không một ai làm được Thánh nhân, không một ai tưởng nhớ đến họ. Bởi do lúc sinh thời họ chỉ lo cho mỗi thân mình, không hề có chút lợi ích cho đời, vì vậy vô thanh vô xú không chút tiếng tăm, có khác gì loài cỏ loài cây.
    - Khổng Tử rằng: “Bậc quân tử sợ sau khi chết đi rồi, sẽ lưu lại danh không tốt”. Mọi sự trên đời không có gì là thật cả, chỉ có điều mà Thánh nhân nói “Tam bất hữu” (lập đức – lập ngôn – lập công) là thật sự có thể lưu lại tiếng thơm muôn đời. Chúng ta không thể chết đi rồi mà chẳng lưu lại chút gì cho đời, vậy nên hãy mau chóng nghiên cứu tham khảo Đạo làm người xử thế.
    1. Nói đến Đạo làm người, điều cần nhất là nuôi dưỡng nhân cách kiện toàn đầy đủ
    Có nhân cách kiện toàn rồi, thì mới kiện toàn được sự việc, nếu nhân cách không kiện toàn, mọi lúc luôn có nguy cơ thân bại danh liệt. Làm người xử thế việc trước tiên nên làm là đặt trọng căn bản,rồi sau đó mới đạt được sở dụng, nhờ vậy mới trở thành một con người hoàn thiện. Mạnh Tử rằng: “Chữ nhơn này là người vậy, hợp với điều nhơn rồi hẳn nói hẳn làm, được vậy là Đạo vậy”. Chữ nhơn là do hai người hợp lại mà thành:
    - Người thật: linh tánh – tam ngũ thành tánh – thể
    - Người giả: nhục thể - nhị ngũ thành hình – dụng.
    Hợp lại thành một người trọn vẹn, từ chổ này con người được sinh ra, cho nên nói “tánh còn người còn”; hai người phân khai thì “tánh đi người vong”, nếu có thể mượn giả tu chân,đốc soái theo tánh mà hành ra, làm được thì chính là Đạo vậy.
    Tư tưởng nhân sinh của Khổng Lão Phu Tử là nhơn Đạo, đây cũng là mục tiêu của các môn đồ Khổng môn nỗ lực thực thi. Trong “Luận Ngữ” có ghi chép lại rất nhiều đoạn hội thoại của các môn đồ:
    - Nhan Uyên hỏi về điều nhơn, Khổng Tử đáp rằng: “Khắc kỷ phục lễ gọi là nhơn. Một ngày khắc kỷ phục lễ, thảy thiên hạ há chẳng quy thuận theo điều nhơn chăng?” (Một ngày không phải nói một ngày có 24 tiếng đồng hồ, người người trong thiên hạ rồi sẽ có một ngày tươi sáng chiếu rọi, một ngày là chỉ người người khắp trong thiên hạ). Người người có thể khắc kỷ phục lễ (uốn nắn mình để hành theo điều lễ), thiên hạ tự nhiên sẽ quy về điều nhơn rồi.
    - Hàn Trì hỏi về điều nhơn, Khổng Tử lại đáp rằng: “Yêu thương người”. Loại công phu này chính là nền tảng đạo đức nên thực thi rộng khắp. Loại thực thi đạo đức này được bắt gặp nhiều trong Luận ngữ, nay chỉ liệt kê ra vài điều:
    1) Phương diện ý chí
    Nên kiên cường không đổi, Khổng Tử rằng: “Người có chí nơi Đạo, nên chiếu theo đức mà hành”.
    2) Phương diện lý trí
    “Cần phải khéo suy ra, cần phải bắt tay vào thực thi. Khổng Tử rằng: “Căn cứ vào một khía cạnh, không cần xét 3 cạnh còn lại, thì sẽ không bị trùng lập”. Lại nói rằng:
    - Bác học (học rộng)
    - Thẩm vấn (suy xét kỹ)
    - Thận tư (nghĩ kỹ)
    - Minh biện (phân biệt rõ)
    - Đốc hành (dốc sức mà làm)
    Chúng ta không được mù quáng mà làm theo, hoặc giả tùy tiện mà hùa theo, Khổng Tử dạy rằng: “Các điều ác nên quán xét kỹ xem có thật là ác chăng? Các điều tốt cũng nên quán xét kỹ xem có thật sự là tốt chăng?”. Vậy nên những lời nói xuyên tạc đồn đại truyền miệng sẽ được ngừng lại nơi người có lý trí.
    3) Phương diện tình cảm
    Nên yêu thương mọi người.
    - Khổng Tử dạy rằng: “Chỉ có người làm đặng điều nhơn, mới có thể yêu thương được người khác”
    - Tử Lộ rằng: “Người nhơn là người làm cho người ta biết yêu thương trân trọng chính mình”
    - Tử Cống rằng: “Người nhơn thì biết yêu thương người khác”.
    - Nhan Uyên rằng: “Người nhơn là người biết tự yêu thương mình”.
    Quả thật người biết yêu thương mình thì mới có thể yêu thương được người khác, yêu thương người thì người yêu thương mình vậy. Bậc quân tử ưu lo cho cái ưu lo của người, và vui trên niềm vui của người.
    4) Phương diện tu thân:
    Cần phải uốn nắn mình theo lễ, luôn biết cung kính lượng xét mà tha thứ.
    - Khổng Tử rằng: “Một ngày khắc kỷ phục lễ, thảy thiên hạ há chẳng quy theo điều nhơn chăng?”
    - Trọng Cung hỏi về điều nhơn, Khổng Tử đáp rằng: “Ra khỏi cửa, xem mọi người như thấy khách quý, khiến mọi người xung quanh hành nghi cung kính như đang có lễ trọng đại diễn ra, điều mình không muốn chớ bắt người phải chịu”.
    - Đại học rằng: “Từ thiên tử cho đến thứ dân, tất cả nên lấy tu thân làm gốc”.
    - Mạnh Tử rằng: “Vạn vật đều sẳn có trong ta, xét mình mà thành vậy, niềm vui há chẳng lớn lắm sao, dũng mãnh lượng xét mà tha thứ, một mực theo đuổi điều nhơn, há chẳng gần Đạo lắm sao?”
    5) Phương diện cầu học:
    Cần phải siêng học, từ học rộng rồi phán xét mình uốn nắn theo điều lễ. Khổng Tử rằng: “Ta không phải là người sinh ra đã biết, nhờ đã yêu thích tìm tòi và học hỏi những học thức của người xưa vậy.”, Ngài lại nói rằng: “Học rồi lại thường đem nó ra mà ôn lại, há chẳng vui lắm sao?” Lại nói rằng: “Học rộng văn chương, ước thúc uốn nắn theo điều lễ”. Nếu chỉ có học rộng mà không uốn nắn theo điều lễ, chẳng khác gì một chú cừu ương ngạnh đang rẽ qua ngõ hẹp.
    6) Phương diện kỹ nghệ (nghề nghiệp):
    Cần phải phong phú.
    - Khổng Tử rằng: “Y theo điều nhơn, dạo lướt trong kỹ nghệ”. Đủ thấy chúng ta cần phải thận trọng lựa chọn nghề nghiệp sao cho hạp với điều nhơn.
    - Mạnh Tử rằng: “Kẻ bắn cung cầm gươm đao liệu có được lòng nhơn như người ăn học chăng? Kẻ cầm cung gươm thì lo sợ mình không làm tổn thương được đối phương, còn người ăn học thì lại lo sợ mình làm tổn thương đến đối phương; kẻ tâm địa bất chính cũng vậy, cho nên người có tài năng về nghệ thuật không thể không thận trọng.’’
    7) Phương diện đối nhân:
    Cần phải cung – khoan – tín - mẫn – huệ. Khổng Tử đáp lời Tử Trương hỏi về điều nhơn rằng: “Có thể làm được 5 điều cung – khoan – tín - mẫn – huệ này, trong thiên hạ là người đạt được điều nhơn vậy. Cung kính ắt không khinh mạn, khoan dung ắt được lòng người, tín nhiệm ắt gánh được trách nhiệm, cần mẫn ắt có công, ban ân huệ cho người ắt sẽ đủ để dùng người.”
    - Tử Hạ rằng: “Quân tử đắc được sự tín nhiệm của mọi người rồi sau mới dùng được người, chưa có tín nhiệm ắt nên khích lệ bản thân càng them nỗ lực; có được tín nhiệm rồi sau hẳn can gián khuyên răn, chưa có tín nhiệm hẳn là đang tự hủy mình vậy.” Nên tự lượng sức mà làm tự biết mình biết người.
    - Mạnh Tử rằng: “Yêu người không thân gọi là nhơn, trị người bất trị gọi là trí, lễ người không đáp gọi là kính, những việc làm không có thành quả, thảy nên tự yêu cầu soi xét nguyên nhân ở mình. Thân này chính chắn ngay thẳng ắt thiên hạ sẽ quy thuận theo.”
    8) Phương diện phụng sự cha mẹ
    - Hữu Tử rằng: “Hai điều hiếu và đễ, đó là cái gốc của điều nhơn vậy”. Phụng sự cha mẹ phải xuất phát từ lòng chí thành, muốn kính trọng song thân thì nên làm theo chí hướng của song thân.
    - Khổng Tử đáp lời vấn hiếu của Tử Du rằng: “Hiếu tử hiện nay gọi là có thể nuôi, đến loài chó ngựa đều có thể nuôi, bất kính với song thân nào có khác biệt gì”.
    - Đáp lời của Tử Hạ rằng: “Phụng sự cha mẹ đoán được sắc mặt của cha mẹ (xem cha mẹ có tâm trạng buồn hay vui) thì khó, có việc thì mau mau chóng vánh phụ giúp đỡ đần cha mẹ, có rượu thịt thì dọn ra mời cha mẹ dùng, con có cho rằng được như vậy là tròn được chữ hiếu chăng?”
    - Lại đáp lời của Mạnh Bá Võ rằng: “Lo lắng cho sức khỏe và bệnh tật của cha mẹ”.
    - Mạnh Tử rằng: “Phụng sự ai là trọng đại? Phụng sự cha mẹ là trọng đại; gìn giữ ai là trọng đại? Giữ thân là trọng đại.”
    - Hiếu Kinh rằng: “Thân thể tóc tai là do cha mẹ ban cho, vì vậy không dám để cho nó bị thương tật và hủy hoại, là bước đầu của hiếu vậy; lập thân hành Đạo dương danh hậu thế để hiển vinh tên tuổi của cha mẹ là tột cùng của hiếu vậy.”
    Vài điều dẫn chứng trên, mặc dù ngắn gọn, nhưng lại hàm chứa sâu rộng, đủ thấy Khổng Lão Phu Tử giáo hối người thật là rộng lớn và cũng thật là tinh vi không chổ thiếu sót. Khổng Tử cho rằng một người muốn đạt được cảnh giới nhơn, thì phải nên tu dưỡng về mọi mặt, vã lại còn có thể thực thi ra các phương diện đạo đức, bằng không thì nếu chỉ có tu dưỡng rất tốt về một mặt, các mặt còn lại làm không tốt, như vậy không thể gọi là người đã đạt được cảnh giới nhơn, bởi nhân cách của người đó vẫn chưa kiện toàn (trọn vẹn, đầy đủ).
    Ở trên là các công phu tu dưỡng mà Khổng Tử đã vạch ra, mục đích cuối cùng là cốt để cho người người đều có thể đạt đến cảnh giới nhơn, khi đã làm tốt được 8 phương diện tu dưỡng, đồng nghĩa với việc chúng ta đã có được một nhân cách kiện toàn trọn vẹn. Đó là các loại công phu tích cực để theo đuổi điều nhơn, ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương 1 loại công phu tiêu cực nhằm để giúp ích thêm cho việc theo đuổi điều nhơn, loại công phu này chính là “an bần lạc nghiệp”, Khổng Tử rằng: “Sáng nghe được Đạo, chiều chết cũng đành”, lại nói: “Chí sĩ nhơn nhân, không cầu sinh tồn để tổn hại đến điều nhơn, cho dù có hy sinh đến thân này, miễn sao thành tựu được điều nhơn.”
    2.  Tu Thiên Đạo Phải Bắt Đầu Từ Nhân Đạo
    Từ xưa đến nay bao đời Thánh Hiền Tiên Phật đều do người tu thành, chúng ta cúng phụng tượng thần của các Ngài là muốn vì mọi người lập nên tấm gương mẫu mực, sùng bái khấu đầu là muốn kêu gọi mọi người học tập noi theo các Ngài; Thánh Hiền cũng là người, chúng ta cũng là người, cho nên từ ở điểm này mà chúng ta sanh ra lòng hỗ thẹn và tự khích lệ gắng sức tiến lên theo bước chân của các Ngài. Tiên Phật Thánh nhân không phải chỉ có trong chùa miếu, vậy thì Phật ở đâu? Phật ở trong lòng chúng ta. Kinh Phật rằng:
    “Phật ở Linh Sơn chớ kiếm xa,
    Linh Sơn ở tận đáy lòng ta,
    Người người đều có Linh Sơn tháp,
    Nhắm hướng Linh Sơn tháp hạ tu.”
    Lại nói rằng: “Tâm ta tự có Phật, Phật ta là chân Phật, Ta nếu không Phật tâm, Nơi đâu tìm chân Phật?” Chúng ta đã thọ được một chỉ điểm, phải biết phản bổn hoàn nguyên (quay về nguồn cội), hướng Thánh Hiền Tiên Phật học tập uốn nắn mình cho ngay thẳng. Chúng ta tuy đã đắc Đạo, nhưng vẫn còn nhiều chổ sánh không kịp Thánh Hiền, tội lỗi chất chồng, làm vẫn chưa được tốt lắm, nào có ai tán thưởng chúng ta là Thánh Hiền? Thánh Hiền là những bậc làm tốt được Thiên Đạo, còn chúng ta ngay cả Nhân Đạo làm chưa xong. Vì vậy nếu chúng ta lập chí làm Thánh Hiền, trước tiên phải từ nhân Đạo mà hạ công phu. Nhân Đạo chính là Đạo lý làm người, đòi hỏi chúng ta cần phải có nhân cách đầy đủ.
    Mỗi điều Thánh nhân dạy bên trên, đều nên thực tiễn mà tu thực tiễn mà làm, Khổng Tử rằng: “Ra sức làm thì gần với điều nhơn vậy.” Bây giờ chúng ta hãy lấy “Ngũ nghi” (5 loại người) mà Khổng Tử đã phân tích lại cùng mọi người chia sẻ. Đây là lời của Khổng Tử đáp lời hỏi của Lỗ Ai Công.
    Khổng Tử rằng: “Có 5 loại người: Có loại người dung tục, có loại người là kẻ sĩ, có loại người là quân tử, có loại người là Hiền nhân, có loại người là Thánh nhân.”
    1) Người như thế nào gọi là người dung tục?
    Là người trong lòng không tồn nề nếp thận trọng kiêng nể, miệng không nói lời huấn dạy; không chọn người Hiền để gửi thân, không dốc sức hành để tự yên vững, chỉ thấy được tiểu ám, việc lớn thì chẳng biết phải làm sao; mặc cho cảnh vật ở bên ngoài lôi kéo cuốn trôi, không biết phải bám víu vào đâu, người như vậy gọi là người dung tục.
    2) Người như thế nào gọi là kẻ sĩ?
    Là người yên vững được cái tâm, giữ sách lược vững vàng, tuy không thể tận được cái gốc của lẽ Đạo, nhưng có được chút ít vậy, tuy không thể vẹn toàn được cái đẹp của trăm thiện, nhưng có được vài chổ vậy. Vậy nên biết không được nhiều, thì nên xét kỹ cái biết; lời không được nhiều, thì nên xét kỹ điều nói ra; hành không được nhiều, thì nên xét kỹ nguyên do. Trí đã biết, lời đã rõ, hành đã rành nguyên do, giống như hình hài của tính mệnh không thể dễ dàng đắc được. Phú quý cũng không hề chi, bần tiện cũng không tổn gì. Người như vậy gọi là kẻ sĩ.
    3) Người như thế nào gọi là quân tử?
    Là người nói lời giữ lời, trong lòng không chán ghét; nhơn nghĩa kề thân mà không bị sắc đốn ngã; suy xét thông rõ mà từ khước những điều không nên. Đốc sức mà hành tin tưởng vào Đạo, tự cường không ngơi nghỉ, cho dù chúng ta muốn vượt qua họ nhưng cuối cùng không sánh kịp họ, người như vậy gọi là quân tử.
    4) Người như thế nào gọi là Hiền nhân?
    Đức của Hiền nhân không vượt quá không cho phép, làm theo khuôn phép, lời nói đủ để làm phép tắc cho thiên hạ, mà không làm tổn thương đến thân, Đạo đủ cảm hóa trăm họ, mà không làm tổn thương đến căn bản, giàu có cũng không tích cóp tiền tài của thiên hạ, thí xả làm cho thiên hạ không còn người nghèo bệnh, người làm được như vậy gọi là Hiền nhân.
    5) Người như thế nào gọi là Thánh nhân?
    Đức của Thánh nhân hòa cùng Trời đất, biến thông khắp nơi, vận hành muôn việc, hiệp giúp cho muôn dân bá tánh đều có thể đạt được Đạo Trời, đức hạnh được phơi bày ra đều rất tự nhiên, sáng cùng nhật nguyệt, sánh vai cùng quỷ Thần, người thường không biết được cái đức này, thấy cũng không biết ở cạnh mình, người làm được như vậy gọi là Thánh nhân.
    III. Kết Luận
    Thông qua 5 loại người mà Khổng Tử nhắc đến bên trên chúng ta có thể nghĩ nghĩ xem, loại người nào cao thượng? Người người đều có thể thành Thánh Hiền, chỉ xem bản thân chúng ta có chí hay không mà thôi.

    Như Thế Nào Gọi Là Người Tu Đạo?




    Từ ngàn xưa Thánh Hiền Tiên Phật, do đâu được lưu danh hậu thế, muôn đời bất hữu,  bởi vì Tiên Phật chỉ một lòng muốn cứu độ chúng sanh thoát ly biển khổ, đã hy sinh đi hưởng thụ của bản thân, rời bỏ gia đình cha mẹ vợ con, thậm chí có lúc cả tính mạng của mình cũng không màn đến; nhờ có những hy sinh vĩ đại này mà Tiên Phật có được cái vinh quang “Đạo thành trên trời, danh lưu nhân gian”. Nếu  đem so sự hy sinh và sức chịu đựng chịu khổ của Tiên Phật Thánh Hiền ngày xưa với người tu Đạo thời nay thì cách xa một trời một vực. Chúng ta may gặp thời có thể đắc trước tu sau, nếu không siêng cần sửa mình độ người để liễu nguyện lớn, há chẳng đáng tiếc và đáng hổ thẹn lắm sao? Nếu chúng ta có chí chân tu thì nên làm tốt 3 điều sau đây:
    1. Nên lấy mỹ đức nhơn từ làm điểm xuất phát. Phật nói “từ bi”, Nho nói “trung thứ”, Phật Thánh đều lấy tự giác giác tha, kỷ lập lập nhân lại làm mục tiêu. Chúng ta đã gánh lấy sứ mệnh của Trời cao, vậy chúng ta đã phát ra lòng nhơn từ chưa? Và hãy quán xem chúng sanh trong thiên hạ vẫn còn đang đắm say trong giấc mộng hồng trần, còn đang giãy giụa trong biển khổ, và tất cả họ đều là anh chị em của chúng ta, vậy chúng ta nên có cảm tưởng gì khi nhìn thấy cảnh tượng đó? Chúng ta phải làm sao mới an ủi được lòng Mẫu, làm sao để báo đáp Thiên Ân Sư Đức, làm sao để cứu chúng sanh thoát ly biển khổ? Chúng ta nên mau dự tính cho một mục tiêu mới.
    2. Nên có phong độ cao nhã. Mỗi động tác, nhất cử nhất động trong sinh hoạt hằng ngày của người tu Đạo bàn Đạo, nên phát ra ở mức vừa phải, nuôi thành thái độ khiêm cung lễ độ nhịn nhường. Nếu có  hành động ngông nghênh càn rỡ, cử chỉ khinh cuồng, khiến người khác nhìn thấy phải sợ, cho dù có học thức cao mấy đi nữa, nói giảng có hay mấy đi nữa, e là không có ai dám thân cận gần gũi. Nên có cái hành vi tự mình làm tốt rồi thì lan rộng ra cho mọi người xung quanh tựa như Thánh nhân, ưu lo điều người ưu lo, vui trên niềm vui của người, lập vững cái gốc nhân Đạo, phát ra lòng chí thành, lập chí nguyện rộng lớn cứu người cứu đời, như vậy mới hợp với tôn chỉ mà Thánh nhân nói: “Đạo của ta từ một mà quán thông tất cả.”
    3. Nên có tinh thần hỗ trợ hợp tác, phàm là Người Tu Đạo thì xem như anh chị em ruột thịt, theo lý thì nên cùng nhau nhắc nhở uốn nắn, cùng nhau khuyên nhủ khích lệ, cùng nhau giúp đỡ ngày càng tiến bộ ngày một đổi mới, mọi người đồng lòng cùng đức vì sự phát triển của Đại Đạo, vậy mới toát ra được cái đạo đức cao thượng của chúng ta. Nếu chỉ một lòng khoe khoang sở trường, bóc trần cái dở của người khác, đố kỵ lẫn nhau, không những làm cho bản thân bị tổn đức mà còn ảnh hưởng tới Đạo vụ, cho dù có làm được một chút công đức, e rằng tội tạo ra còn lớn hơn cả công, có được công đức không đủ để bù đắp tổn thất do tội gây ra, cho nên không thể không cẩn thận!
    Tóm lại mà nói, chúng ta muốn được xem như một người tu Đạo, thì cần phải có tấm lòng từ bi, có phong độ khiêm tốn ôn hòa lễ độ khiêm nhường, có tinh thần kiến Đạo thành Đạo, tương trợ hợp tác, lấy cứu đời cứu người làm thiên chức, lấy giúp người hành thiện làm niềm vui. Như vậy hành trì thì tiền đồ của đại Đạo mới có một ngày tươi sáng, tương lai chúng ta mới có niềm vinh quang “Đạo thành trên trời, danh lưu nhân gian”, có ích cho thế gian, xã hội và nhân loại, bất khả hạn lượng (không thể lường được). Nếu không lấy thân làm gương, miệng nói thân không làm, kết quả sau này, cũng chẳng qua nở hoa không mà thôi, không thể không lo sợ.

    Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

    Làm Sao Phân Biệt Thánh Nghiệp Và Sự Nghiệp?




    Những việc phàm tình mà người đời thường làm tranh danh đoạt lợi gọi là sự nghiệp, những việc mà Thánh Hiền Tiên Phật thường làm lưu danh muôn đời “Đạo thành trên trời, danh lưu thế gian” gọi là Thánh nghiệp.
    Con người từ lúc giáng xuống hồng trần ô trược này, đã trở thành thân hình có hình có tướng, cho nên cần đến vật chất có hình tướng bên ngoài lại nuôi dưỡng thân mình. Lòng người tham lam quá độ, vì vậy luôn vì bản thân mình vì gia đình mưu lo tính toán, làm sao cho mình chiếm được hời, không quan tâm đến người khác sống chết ra sao, toàn dùng lòng tư dục, mưu lợi cho bản thân, vì thế dẫn đến những việc tranh danh đoạt lợi.
    Thế nào gọi là tranh danh? Tranh chức tước trên quan trường, tranh làm tổng giám đốc, tranh làm chủ tịch hội đồng quản trị, tranh làm viện trưởng, tranh làm khoa trưởng…, thế nào gọi là tranh lợi? Nào là sĩ nông công thương ai cũng muốn phát tài. Loài người từ lúc được sinh ra tới nay, sinh sinh tử tử, không biết sinh ra từ đâu lại, chết rồi từ đâu đi, chịu ảnh hưởng của trào lưu, mê muội mất đi thiên tánh, bất luận là giáo dục, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp…, chung quy ai cũng muốn béo thân mình, nhà cao cửa rộng, ăn ngon mặc đẹp, không biết sợ cái khổ của nhân quả báo ứng sinh tử luân hồi. Chỉ một mực tranh lấy tiền tài và địa vị, suốt ngày cờ bạc rượu chè trai gái, say đắm hồng trần, lớn thì các nước tương tranh, tham quan tương tranh; nhỏ thì gian thương tham tài tương tranh, xóm làng tương tranh, cha con anh em vì tương tranh của cải mà đưa nhau ra hầu tòa, rất nhiều trường hợp nam không ra nam, nữ không ra nữ, cha không ra cha, con không ra con, nam biến thành nữ, nữ biến thành nam, hành vi loạn luân nghịch luân, lớp lớp tầng tầng, đến nổi làm cho thế giới hỗn loạn bất an. Nhân tâm thay đổi, kéo theo thiên tâm cũng thay đổi theo, cũng bởi nhân loại thiếu mất đi sự tu dưỡng nề nếp luân lý đạo đức, chỉ biết hưởng thụ ăn ngon mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, cũng là nguyên nhân chính của sự tranh dành. Những việc trên đều là việc phàm tham luyến danh lợi ân ái trước mắt. Nên biết rằng vinh hoa phú quý tựa như ánh sáng điện và đá lửa, khi vô thường đến, mọi thứ đều ngưng, tay trắng lại tay trắng đi, liệu có gì để quyến luyến?
    Người ta có thể dùng hết tinh thần vào việc tranh lấy tiền bạc, đổi lại thì đắc được sự sinh tồn của trăm năm, tại sao chúng ta không dùng hết tinh thần đó vào việc tu Đạo để siêu sanh liễu tử, một vốn vạn lời? Đó đều là nguyên nhân khiến linh tánh bị vật chất làm cho mê muội. Chúng ta đã là người có lòng tu Đạo, thì nên nhìn thấu sự nghiệp phàm tình chỉ là giả tướng nhất thời, cần phải mượn giả tu chân, lợi dụng thể xác giả mau mau lập đức lập công, để đổi lấy Thánh nghiệp vạn bát năm, tương lai lưu danh thiên cổ, mới không uổng sống kiếp này.
    Thế nào gọi là Thánh nghiệp? Tức là mượn thân giả lại tu phần chân tánh. Khi xưa Ngũ giáo Thánh nhân cùng bao đời Tổ sư, đã khéo mượn giả tu chân, bổn tánh bất muội, kết quả là thành tựu quả vị “Đạo thành trên trời, danh lưu thế gian”. Vào thời tam kỳ mạt kiếp này, thế giới hỗn loạn, chúng sanh khắp nơi hứng chịu tai kiếp, thượng thiên Lão Mẫu không nhẫn lòng để thiện ác đều bị hủy diệt, vào lúc này đã thòng giáng xuống Đại Đạo, đại khai phổ truyền, để tất cả thiện nam tín nữ bình an qua khỏi mạt hậu cận kề, thân xác cùng linh tánh đều được an toàn. Người đắc Đạo không những cần phải chân tâm tu Đạo, mà còn phải thay trời tuyên hóa, thay Phật tuyên hóa, lớn tiếng kêu gọi, thức tỉnh người đời, để mọi người biết rõ nguyên nhân trời cao giáng Đạo, tuân thủ luân lý đạo đức, càng có thể cứu đời cứu dân, vãn hồi thế giới hỗn loạn thành thế giới đại đồng, đây mới thật là Thánh nghiệp vạn bát bất hữu.
    Thượng thiên Lão Mẫu khai ân, mệnh cho Lão tổ sư, Sư tôn, Sư mẫu của chúng ta giáng hạ Đông thổ, lại phát rộng Thánh dược và bảo bối Tiên thiên vô giá từ xưa không dễ truyền “Huyền quan khiếu”, để tất cả nguyên Phật tử cùng có thể siêu sanh liễu tử, thật là việc chưa từng có trước đây, một Thánh nghiệp lớn kinh thiên động địa. Thánh vụ tuy lớn, dược phẩm chỉ có một “huyền quan”. Bất luận là nguyên Phật tử ở quốc gia nào cùng chư Tiên ở Khí thiên và Địa phủ quỷ hồn, muốn được bình an qua khỏi mạt kiếp tàn niên, không thể không mua loại dược phẩm này, bằng không khó tránh khỏi hạo kiếp cận kề, cũng vì thế mới có việc phổ độ tam tào lần này. Chư thiên Tiên Phật lo sợ kỳ hạn Lão Mẫu định ra phổ độ không kịp để hoàn thành việc phát rộng, cho nên ngày đêm lo sợ muôn phần, lệnh cho các nguyên Phật tử có chức trách có bổn phận ở khắp nơi nhằm đem các bệnh của chúng sanh phạm phải như: Tham, sân, si, ái…, dùng diệu dược lại chữa trị hồi phục, để các chúng sanh quy căn nhận Mẫu, không còn thọ chịu cái khổ của luân hồi. Người phàm đều dùng tiền tài lại tạo tội, tạo nghiệp, chúng ta nên dùng bảo bối của Tiên thiên vô giá lại hoán đổi tiền tài của phàm trần, để tiêu tội, nghiệp của mình. Trong lúc thiên thời khẩn cấp này, chúng ta nên dùng đến sinh mạng, tâm sức, tài lực, vật lực lại tranh thủ quả vị Tiên thiên vạn bát năm. Cần ở chúng ta cái người khó xả tôi có thể xả, cái người khó chịu thiệt tôi có thể chịu thiệt, cái người khó nhẫn tôi có thể nhẫn, cái người khó thực thi tôi có thể thực thi, dùng tiền tài của thiên hạ lại tiêu tan nghiệp của thiên hạ, cứu tánh mệnh của thiên hạ, thành công đức lớn của thiên hạ, chứng đắc quả vị lớn vạn bát năm, nếu không nở xả kim tiền, thì tiêu không nổi oan nghiệp, cho dù có để lại muôn lượng vàng, cũng khó mua nổi hai chữ “sanh tử”. Chúng ta hãy nghĩ xem, nếu chỉ có tu Đạo vài năm, sao có thể bù được tội, nghiệp của lũy kiếp? Cho nên thảy cần lập cái chí lớn xung thiên, hiến thân cho Đạo trường, làm sự nghiệp lớn không tiền tuyệt hậu xưa nay chưa từng có, thành tựu nền Thánh nghiệp lớn một vốn vạn lời.
    Thầy dạy rằng: “Nhân tước sao bằng thiên tước quý, công danh chi bằng Đạo danh cao”.

    Làm Sao Để Tiêu Oan Giải Nghiệp?





    "Sanh tử xương tựa núi, 
    Nhân quả lại tuần hoàn
     Muốn tiêu nợ oan nghiệt,
    Vẫn công đức làm đầu".
    "Từ lúc con người xuất hiện đến nay, tính ra đã hơn sáu vạn năm, sanh tử luân hồi, chuyển biến không ngừng, nhân quả tuần hoàn, thiện ác tương báo; than người mê hư vọng tham tranh, dẫn đến tích dồn oan khiên của lũy kiếp, cần phải dùng công đức lại trả bù, may gặp đương lúc Tam kỳ mạc vận, Thiên Đạo đại khai phổ độ, đúng là thời cơ tốt để hành công lập đức; chớ để tuột mất cơ duyên này, phải nên nhanh chân dũng cảm, đừng sợ chông gai trước mắt, nên biết rằng trả sạch nợ oan nghiệt thì mới có thể thoát khổ về nguồn."
    Đoạn trên là những lời phê của Hoạt Phật Sư Tôn, dặn dò chúng ta tu Đạo, điều nên làm trước tiên là phải trả sạch nợ oan khiên trái chủ, thì mới có thể thoát khổ về nguồn.
    Thế nào gọi là oan khiên? "Oan" có nghĩa là chưa thông qua sự đồng ý của đối phương mà đã thủ lợi. "Khiên" có nghĩa là mượn của đối phương, nhưng quên trả, hoặc trả không đủ.
    Những việc oan khiên ai ai cũng mắc phải, nguyên nhân chính là do không rõ nhân quả báo ứng, ngày này qua tháng nọ, tích dồn đời này qua kiếp khác, ngày một lún sâu. Tỉ như con người nhờ vào chính khí của Trời Đất mà sinh tồn, được Trời che Đất chở, nhật nguyệt soi chiếu, mưa mù dưỡng nuôi, ngũ cốc thủy hỏa dưỡng dục, nên mới gửi thân đặng ở đời; con người tuy thấm được sự hậu đãi và ân trạch của Trời Đất, đáng lẽ phải sống cho có nhơn có nghĩa, thuận theo chánh Đạo của Trời Đất hòng để báo đáp ân trạch của Trời Đất mới phải, nhưng lại có một số người không biết kiêng sợ, đi làm một số việc khi Trời oán Đất, loại người như vậy há chẳng thiếu nợ ân trạch của Trời Đất sao? Tỉ như công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, suốt đời khó báo đáp, nếu làm không tốt hiếu đạo, há chẳng phải thiếu nợ công ơn sinh thành của cha mẹ sao? Ngoài ra còn có vợ chồng ân tình nhạt nhẽo, nhi nữ vô tình, ngoài những nguyên nhân gây ra oan khiên còn có những loại vô tri không biết, mê muội tâm tánh, làm một số việc gian dâm tà đạo, giết người phóng hỏa, thương thiên hại lý… đều là những nguyên nhân tạo ra nghiệt trái. Kinh Thư rằng: "Trời tạo nghiệt còn tránh được, tự tạo nghiệt không thể sống". Vì vậy con người tự làm tự chịu, tự gây tự trả, lưới Trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát, phàm người có thiếu nợ tiền tài thì phải thanh toán trả nợ cho rõ ràng. Con người ai cũng có tánh, loài vật con nào cũng có linh, phàm người và vật bị thiệt thòi oan ức, có lẽ nào lại không đi đòi nợ?
    Chúng ta ba đời may mắn, gặp lúc Thiên Đạo phổ truyền, đắc thọ Minh Sư chỉ rõ đường giác, có thể một bước trực siêu, nếu trước tiên không đem oan khiên nợ nần của mình trả sạch, tuy có lòng cầu tiến, nhưng oan khiên luôn ở phía sau lôi kéo đòi nợ, tương lai cũng khó vượt cao. Phật rằng: "Đại Đạo tu lại có dễ khó, cũng biết do mình vừa do Trời; nếu không tích công tu âm đức, động có quần ma làm chướng duyên". Qua đó có thể biết tu Đạo nếu không có chân công thật thiện, tuy có bày tỏ, nhưng luôn bị quần ma lại cản trở, lôi kéo chúng ta rơi xuống lại.

    Phật rằng: "Quán xem bốn phía tiếng quỷ rên, Âm thanh thảm thiết khiến đau lòng; Bồ Đề đường giác không tự tạo, Tát đà tự tánh biến bùn nhơ". Vì vậy chúng ta nên biết, ngày chúng ta cầu Đạo, biểu văn một khi bay lên, tam Tào đều biết, Thần quỷ đều kinh sợ, những oan hồn của lũy kiếp, luôn ở Địa phủ trực chờ, lợi dụng lúc tâm bạn lơi lỏng (bất chánh), lập tức đến trước mặt đòi thanh toán. May cho chúng ta là đệ tử của Hoạt Phật và Bồ Tát, trong lúc lập nguyện và cầu Đạo, được ân Sư đứng ra đảm bảo, các khoảng nợ từ từ trả, có tội từ từ liễu, oan nghiệt không thể không nghe theo mệnh của Ân Sư, không dám khinh suất xâm phạm. Nhưng mệnh của ân Sư chỉ có thể đảm bảo trong nhất thời, không thể đảm bảo cả đời, nếu chúng ta quên hết những lời thệ nguyện trước Phật, có nguyện không đi liễu, hợp đồng đảm bảo của ân Sư cũng chỉ trở thành tờ giấy trắng.

    Hiện nay Thiên thời gấp gút, oan khiên đòi nợ càng gấp, nếu không cấp tốc tìm cách tiêu giải, một khi oan nghiệt tìm đến, nguyên thần không thể làm chủ, tâm tánh điên đảo thác loạn, trong bất tri bất giác khai chay phá giới, phản Đạo bại đức, một khi trụy lạc, vạn kiếp khó siêu sanh, ngẫm nghĩ thật kỹ, thật là đáng sợ! Vậy phải làm sao mới tiêu được oan giải được nghiệt? Hoạt Phật Sư Tôn dạy rằng: "Nếu muốn trả sạch nợ tiền kiếp, dựa vào công đức đủ trả rồi". Nếu chúng ta có thể tam thí song hành, vâng làm các điều thiện, càng không nên tạo thêm nghiệp mới, tự sẽ rước lại oan khiên, thì có thể đem hết nợ nần oan nghiệt của lũy kiếp lớp lớp tự có thể từ từ hóa giả rồi.

    Tế Công Hoạt Phật Từ Huấn ( Lời Của Thầy )





                                                              Phần 1

    1. Kỳ thật mọi người bái lạy là “tự gia Phật”, lạy Tự Tánh Phật của mình, mọi người khấu đầu là khấu cái gì? Khấu lạy Tự Tánh Phật của bản thân mình nha! Tự Tánh Phật ở nơi nào? Chỉ cho thầy xem đi, có người chỉ vào trái tim đang đập. Thầy nói cho các con nghe, Tự Tánh Phật ở “nơi này”! Tam Bảo phải ghi nhớ, nếu các con quên rồi về không được. Thầy đây cũng phiền phức, quá nhiều người cần Thầy dắt về như vậy! Tốt nhất là tự mình nhận được đường về. Lạy Phật là lạy Tự Tánh Phật. Tiên Phật chỉ cần các con học và làm theo là được rồi, học tập Tiên Phật lúc còn sống đã làm những điều tốt gì, kiếp này các con cứ học và làm theo là được, như vậy các con mới có thể thành Phật được.

    2. Nghĩ đến người khác thì mới biết yêu cầu bản thân, yêu cầu bản thân đối với người thì phải tha thứ, yêu cầu bản thân tất phải phù hợp với đạo trung dung.
    3. Phải dùng “tâm cám ơn, tâm bình thường, tâm hoan hỷ” để đối diện với tất cả những việc xảy ra trên thế gian này. Tâm niệm thiện từng bước đều trở nên tốt đẹp; nếu con tâm niệm bất thiện thì từng bước trở nên xấu ác.

    4. Ăn chay rất tốt, ăn chay có thể sống lâu, bây giờ có rất nhiều loài động vật có độc, ăn chay không kết oan khiên; ăn chay phải vĩnh viễn, không được nửa đường bỏ gánh, phải ăn cho đến ngày về trời thì mới ngưng. Các con ăn chay, cái miệng sạch tâm cũng phải sạch, không thể cái miệng ăn chay là được, ăn chay cái miệng không được mắng người. Con người hiện nay “ngoài mặt thì thiện trong lòng thì ác”; chúng ta ngoài mặt thiện, trong lòng cũng phải thiện, phải có lòng từ bi, đừng vì ngon miệng trước mắt mà sát hại sinh mệnh của chúng sanh.

    5. Người trong xã hội hiện nay càng không tuân thủ “quy củ giới luật” ngày sẽ càng nhiều. Tới Phật Đường cũng phải tuân thủ Phật quy. Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, Phật đường cũng có “Phật quy lễ tiết”. Cho nên không cùng hòan cảnh sẽ có không cùng quy luật, phải “nhập gia tùy tục”, người tu đạo phải biết khiêm hạ “để tâm hạ khí”. Người tu đạo sợ nhất là kiêu ngạo, con người thường có tánh tự ngã tự phụ, tu đạo phải khiêm hạ, thì tự nhiên mọi người sẽ có lễ phép với mình, đó mới gọi là thành công. Tu đạo nếu còn tồn chứa tâm kiêu ngạo, cho là mình biết nhiều hơn người khác, như vậy là không được . Giống như ca hát vậy, có lúc hát bị lạc điệu, tu đạo không thể lạc điệu được, phải tuân thủ “giới luật quy củ”, cố gắng mà tu hành.

    6. Tại sao bây giờ thiên tai nhân họa lại nhiều như vậy? Bởi vì lòng người bây giờ đang thay đổi, lòng người biến xấu. Cho nên trời cao sẽ giáng xuống tai kiếp, bởi vậy các con phải tu tâm, tu sữa cái tâm cho tốt. Trời cao sẽ không giáng tai kiếp lên thân các con. Chỉ cần con có tu người nhà của con sẽ được bình an.

    7. Con càng khiêm tốn càng không muốn có, trời cao sẽ cho con càng nhiều hơn. Trong lòng con không có chiếm hữu, tương lai con sẽ có càng nhiều hơn. Con càng muốn chiếm hữu, con thật sự chỉ chiếm hữu được một chút thôi.

    8. Người thế gian có điều cần phải nhìn thấu, là điểm nào đây? Chính là tiền tài phải nhìn thấu, sống chết cần phải xem nhẹ một chút; người sợ chết ngược lại càng chết sớm hơn, người thích tiền tài càng tham càng nghèo khốn. Cái gọi là “tiền tài sanh ra không đem đến, chết rồi không đem đi”!

    9. Tập quán thói quen là túc tập lũy kiếp của mỗi cá nhân chẳng hạn như: “Của tôi”, “tôi làm”, “tôi vốn dĩ đã có rồi”, … v.v. đó đều là chấp trước đều là vô minh.

    10. Làm thế nào để phá trừ “vô minh”? Chính là “chuyển niệm”, trước tiên đôi bên cùng nhau thống hiểu, tâm tồn cảm kích, cám ơn, thái độ vui vẽ thành khẩn, tự nhiên sẽ viên mãn trọn vẹn.

    11. Sự thù thắng của “Tam Bảo” rất là diệu dụng, nhưng cần phải đem ra áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, phải được sử dụng trên tự thân mình. Nếu có lúc tâm không bình tĩnh, niệm niệm (trong lòng) 5 chữ chân ngôn “Bảo thứ 2”; lúc có vấn đề không lắng tịnh lại được, niệm niệm 5 chữ chân ngôn thì sẽ có “diệu trí huệ”. Lúc hoang mang cần tham bái, chính là tự hỏi hỏi mình, phản tỉnh bản thân, tại sao lại xảy ra vấn đề như vậy? Trước tiên tìm ra gốc gác vấn đề, tiếp theo là giải quyết vấn đề, như vậy chính là “diệu trí huệ”.

    12. Chúng ta không thể thay đổi được thời tiết, nhưng có thể thay đổi được tâm trạng của mình; không thể thay đổi được dung mạo, nhưng có thể phơi hiện ra nét mặt tươi cười; không thể hạn chế được người khác, nhưng có thể nắm vững được bản thân; không dự biết được ngày mai, nhưng có thể nắm vững được hôm nay; không thể việc việc thuận lợi, nhưng có thể việc việc tận sức.

    13. Muốn phục vụ người khác, trước tiên phải hiểu được lòng người, biết được lòng người mới có thể biết được lòng trời, con không hiểu lòng người thì làm sao hợp được lòng trời? Không hiểu được lòng trời thì làm sao thuận được lòng người đây! Đây hoàn toàn dựa vào sự dụng tâm của các con đó.

    14. Đối với mình không lỗi cầu cho có lỗi, không những tấn đức mà còn tránh miễn được họan nạn; đối với người có lỗi cầu cho không lỗi, không những đôn hậu mà còn giải oan.

    15. Lấy lòng trách người lại trách mình, lấy lòng tha thứ mình lại tha thứ người. Con người có thể nhìn xa ngòai trăm dậm, nhưng khó thấy được sao lưng mình; mắt có thể thấy được nhỏ li ti như tơ hào, nhưng khó điếm được lông mi mình, cho nên người thường thấy lỗi của mình, thì gần với đạo vậy!

    16. Con người lại tới thế gian này, không chỉ vì miếng ăn cái mặc không thôi, mà phải bỏ ra lòng yêu thương, lòng từ bi để quan tâm yêu qúy chúng sanh; đem giá trị sinh mệnh phát huy trên thân người khác, học theo tâm Bồ đề của Bồ Tát, mọi lúc tồn tâm tốt làm điều tốt. Người sống trên thế gian thường không ổn định, có lúc cười ha ha, có lúc khuôn mặt đầy sự ưu buồn và thương tâm, lại phải đối diện với sự biến hóa vô thường của thế gian. Cho nên sống cần phải có phương hướng mục đích và làm chủ được bản thân. Lấy tâm trạng bình tĩnh yên ổn lại đối diện với cái thực xấu tốt. Vậy thì sống mới được yên ổn và vui vẻ, cơ thể vì vậy mà mạnh khỏe.

    17. Tâm của đồ nhi mở không ra, nhìn không thấu, đương nhiên làm việc gì cũng không được thuận lợi, con muốn thuận lợi tâm phải mở ra, phải nhìn cho thấu, đừng để cho hình thức quy tắc trói buộc lại; tâm lượng rộng rãi tự nhiên làm việc gì cũng thuận lợi. Hôm nay không thuận lợi bởi vì tâm lượng qúa hẹp hòi, có lúc quá chú trọng hình thức, con sẽ bị hình thức ràng buộc. Trong lòng không nên chất chứa 1 chút gì suy nghĩ tạp lọan. Tồn chứa qúa nhiều suy nghĩ tạp lọan, tâm của con sẽ bị buộc chặt lại.

    18. Tâm lượng rộng thì phước sẽ rộng, tâm bằng phẳng đường đi sẽ bằng phẳng. Trong lòng trổi dậy qúa nhiều nỗi bất bình chỉ làm trở ngại cho con thôi. Lúc con cực khổ có thốt lên lời oán trách không? Nếu có, vậy thì đã tạo ra tâm khổ rồi. Muốn hiểu rõ cái tâm khổ và cực khổ là liên quan mật thiết nhau, con nên lập tức chuyển niệm nha!

    19. Cố gắng nghe Đạo lý, đừng để cái xấu của người khác ảnh hưởng đến mình. Có lúc trong lòng có một số chướng ngại hoài nghi với niệm đầu kỳ quái. Đừng dấu trong lòng mãi, nên đem nó phơi bày ra. “Khoảng trời không mới có một bầu trời xanh”, tất cả những cái không tốt này là đều do mình tạo thành. Đồ nhi ráng học theo cái không ràng buộc của Lão Sư, chính là tự tự tại tại. Thầy chúc đồ nhi thành công viên mãn. Đồ nhi vĩnh viễn ghi nhớ trong lòng câu nói: “phải có lòng tin phải có lòng nhẫn nại, phải có lòng hằng bền, vĩnh vĩnh viễn viễn, mãi cho đến được mục đích”.

    20. Đụng việc không thối chuyển, cần phải vững kiên nghị lực, thế nào là nghị lực? Chính là lòng hằng bền, lòng nhẫn nại.

    21. Đồ nhi nếu có lúc gặp đau khổ đừng đi than vãn với người khác đồ nhi có thể thổ lộ với Thầy, đồ nhi có thể ở Phật Đường hay ở trước Phật thổ lộ, hoặc là ngước lên không kêu thầy, đồ nhi than vãn với thầy, thầy sẽ rất vui mà tiếp nhận. Bởi vì đồ nhi vì cái gì? Chính là vì làm việc Phật, độ hóa chúng sanh, cho nên các con có lúc đau khổ, thổ lộ cho thầy nghe, thầy vui vẻ mà tiếp nhận, rất rộng lòng mà lắng nghe. Nhưng Thầy hy vọng đồ nhi đừng hở chút là bộc phát cáu bẳn nóng tánh ra, nên dành hơi sức đó dùng để độ hóa chúng sanh, thành toàn quan tâm độ hóa chúng sanh hữu duyên. Đồ nhi phát ba phần tâm, thầy trợ bảy phần tâm. Thầy âm thầm trợ giúp cho đồ nhi, hy vọng các con sấn tiến về phía trước, đừng phụ lòng kỳ vọng của thầy. Chúc phúc đồ nhi!
    Phần 2
    22. Con chỉ cần có thành tâm có Phật tâm, thì nơi nào cũng tu được Đạo. Chỉ cần giữ vững được tâm niệm của chính mình, vậy chính là tu Đạo rồi. Chỉ cần có lòng, không ở sâu cạn, không ở mới cũ, tu Đạo chính là ở đương hạ (thời khắc trước mắt). Khi con có một tâm niệm (ý nghĩ) trỗi dậy, nếu là tâm niệm tốt thì con nên nắm bắt nó, nếu là tâm niệm không tốt thì con nên cảnh giác nó, như vậy chính là tu Đạo.

    23. Khi con muốn biết Phật là cái gì? Điều đó chứng tỏ con có lòng muốn học Phật. Vị Phật này con vốn dĩ đã có rồi, nghiên cứu Kinh điển đừng để Kinh điển bó buộc, cái trong Kinh điển dạy cũng chính là cái mà con người chúng ta viết ra, nguồn gốc của nó cũng là ở từ con người mà ra, mặc dù người người đều giống nhau, nhưng tâm lại bất đồng, cho nên lúc Đức Phật vẫn còn làm người (lúc chưa quy không), thì đã có thể làm ra được Kinh điển, để hậu bối chúng ta có thể nghiên cứu được Kinh điển, các con vinh hạnh biết bao, hôm nay có thể ngồi ở đây mà nghiên cứu Kinh điển, đó là do các con có được nhân duyên không giống.

    24. Sanh tử và có không vốn cùng một thể, sanh là có, tử là không, nhưng con lại thường chắp chước vào ở trong cái “có không”, cho nên mới suy tính thiệt hơn. Cái lý này chính là cái thuyết đối đãi nhị nguyên.

    25. Tu Đạo có tu thật và tu giả, tu thật thì ở nội tại bên trong, còn tu giả thì lại chú trọng biểu hiện ở bên ngoài, các con muốn chọn tu cái nào? Con nếu lý nhận không rõ, thì làm người sẽ không có nguyên tắc, làm việc cũng khó thành.

    26. Tai kiếp, nó vốn đã sẵn có, bởi vì đó chính là định số và thiên số vận chuyển, cái “số” này chính là định số, chúng ta sanh ra ở thế gian vốn đã có một cái định số, chúng ta phải vượt qua khỏi cái định số này, muốn vậy thì tâm của con phải nới rộng ra, nới rộng ra rồi mới có trí huệ a ! Con người bởi do có lòng đối đãi mới có nhân quả, do có tâm phân biệt mới có nhân quả, phải biết tìm hiểu thế nào là “nhân”, thế nào là “quả”? Cuộc sống sinh hoạt thường nhật chính là Đạo a ! Giữa người với người cũng là Đạo ! Giữa người với người đều có nhân quả, trước mắt liễu dứt trước mắt tốt, trước mắt vui trước mắt đem nó ra giải quyết cho xong, nhân quả chính là đem ác chuyển thành thiện, đó toàn nhờ vào tâm niệm của con hết.

    27. Đồ nhi cần phải có cái tâm lượng tùy hỉ và tùy thuận, nơi nơi bù đắp con đường “thiện hỷ phương tiện”, thời thời nói lời “trí huệ quang minh”, được vậy ở trên thì cầu Phật Đạo, ở dưới thì độ hóa chúng sanh, tương lai sẽ thành tựu được ruộng phước vô lượng công đức, lợi ích thập phương chúng sanh, cũng chính là Thiên sứ của Bạch Dương.

    28. Trí huệ ở chỗ sau khi Minh Sư một chỉ điểm, trọn vẹn không khuyết, chỉ cần đem nó lấy ra “dùng”, bình thường tu Đạo bước trên thực tế (từng bước thực tế) mà làm, tự nhiên trí huệ sẽ sản sinh ra, làm thế nào dùng đây? Cách tốt nhất là dùng “hành động” để biểu hiện ra ngoài, ràng buộc giới hạn hành vi và cử chỉ của mình, làm tốt gương mẫu, như vậy con không cần phải phí lời nói cho người ta nghe, tự nhiên người ta sẽ tìm đến con.

    29. Sinh mệnh không những cần phải có độ sâu và độ rộng, mà còn phải có cái độ minh (sáng), cái minh của minh bạch, và cái minh của quang minh. Phải minh bạch chính mình, phải rõ rõ ràng ràng nắm bắt mỗi tâm niệm của các con, phải để cho chính mình có độ minh. Nhưng cũng đừng quên đi cái độ rộng, phải đầy đủ cả hai. Nếu con hôm nay chỉ có độ minh, từ từ con sẽ trở thành người rất mẫn cảm (nhạy cảm, dị ứng); khi con trở thành quá mẫn cảm, con sẽ bị tâm trạng của mình kéo theo quay vòng vòng. Nếu con không có độ rộng, con sẽ không có cách bao dung. Thầy hy vọng sinh mệnh và tấm lòng của các con không chỉ có độ minh có độ sâu không thôi, mà còn phải có độ rộng nữa, không những minh bạch được chính mình, mà còn phải bao dung chính mình; không những minh bạch được người, mà còn phải quan tâm và tha thứ cho người.

    30. Bước vào cửa Phật rồi, tâm tánh của mình phải tự mình chịu trách nhiệm, hình tướng của phàm gian là nhốn nhốn nháo nháo, nhưng Thầy thấy tất cả những cái này rất là ấu trĩ, những kiến thức này đều bị hạn  chế. Tại sao vậy? Thấy chúng đồ nhi thường đem bản thân câu thúc (nhốt) trong dòng nước xoáy ở đó tranh chấp không ngừng, nhưng nghĩ nghĩ xem, mười năm về trước con chắp chước vào cái gì? Hôm nay con lại đắc được có cái gì không giống? Có món gì con chưa đắc được? Mười năm trước đây của con và mười năm sau của con có gì thay đổi? Người ta nói: “tâm ban sơ xuất phát” ra thì dễ, nhưng làm thế nào để đem nó biến thành một loại tâm niệm lâu dài (duy trì mãi mãi) thì không phải đơn giản. Cho nên, Thầy đây khuyên chúng đồ nhi tu Đạo không nên tâm trạng hóa, tấm lòng nên nới rộng ra; nhìn càng phải rộng hơn, bức thiết phải “vô tư”, thì dung lượng của con mới có thể tiếp nạp càng nhiều hơn, nhờ vậy mới có thể nhìn càng xa hơn.

    31. Thế nào gọi là “diệu hành vô trụ”? Ưng vô sở trụ nhi tâm vô triều (nên không có chỗ để trụ vào, nhưng tâm lại không hề dâng lên những cơn sóng lòng), nếu như nói tâm của con không có chắp chước gì, và không có những chướng ngại ràng buộc nào, thì tâm của con sẽ không dấy lên những cơn sóng lòng, sóng lòng chính là những cái mừng giận buồn vui – lục trần – thất tình – tam độc . . ., ở thế gian này có thể miễn trừ đi được những thứ này (trừ bỏ đi hết mừng giận buồn vui – lục trần – thất tình – tam độc . . .), thì chính là Trung Dung Đạo, cũng chính là Đạo.

    32. Khi người khác làm việc không được viên mãn trọn vẹn, chúng ta hãy đi giúp họ làm cho viên mãn một chút, như vậy không những viên mãn được chính mình, mà còn viên mãn được người khác. Có lúc, chúng ta đem những chi tiết nhỏ nhặt ở chỗ lớn bỏ sót mất, nhưng lại không biết cái chi tiết nhỏ nhặt này lại là cái mà người ta chú trọng lớn nhất a ! Có thể con sẽ cho rằng không có gì hết, nhưng thường do bởi những chi tiết nhỏ nhặt này lại làm cho giữa hai bên sinh ra khoảng cách à ! 

    33. Chúng sanh cũng bởi vì tham niệm – vọng tưởng, nên cứ ở mãi trong luân hồi; bởi do phiền não - chắp chước, nên tự tạo ra gánh nặng. Người tu Đạo việc phàm phải nắm cho được – nhìn cho thấu – tính cho tới – làm cho xong – mở cho rộng – buông cho xuống, “xả đắc” (rời bỏ) mới có thể giải thoát khỏi gánh nặng.
    Phàm phu thường là:
    Ân ái vợ con không nỡ rời.
    Thói hư tật xấu không nỡ sửa.
    Công danh phú quý không nỡ buông.
    Vàng bạc tiền tài không nỡ xài.
    Không nỡ rời chính là gánh nặng.
    Tục ngữ có câu: “Không gánh nhẹ một đời”. Phật rằng: “Buông xuống hết thảy liền có thể ngừng quán, biết huyễn giả tức là giác, giác tức là rời.” (ngừng có nghĩa là: an tĩnh, an lành, định tĩnh; quán có nghĩa là: dùng định tĩnh lại lãnh ngộ.)

    Kiếp Người Thật Đáng Thương






    (Trích 1 phần trong Thư Thầy Tế Công gửi đệ tử bạch dương.)  
    Bước đường trần con mãi lo tranh đoạt,
    Bước Thánh Hiền con bỏ mặc Thầy mong.
    Nam Bình Sơn ngày đêm mong đợi,
    Đợi con về ruột thắt lòng đau.
    Tranh được gì chốn bụi đời tạm bợ,
    Đoạt được gì những thứ phù du.
    Này đồ đệ! Hãy nghe Thầy nói,
    Về đi con! Trời đã tối rồi (đã muộn lắm rồi)!
    Hoa nở hoa tàn vốn vô tình
    Người đi kẻ ở lại vương tình
    Tình Thầy trò như tình phụ tử
    Thầy nhớ con! Con có nhớ Thầy không?

    Con người sinh ra trên cuộc đời này bắt buộc phải chấp nhận hai đời sống. Một thuộc về tâm linh. Hai thuộc về vật chất. Đối với đời sống nói chung, chúng ta phải chịu một bản án tử hình. Nhưng bi thảm thay! bản án này không có báo trước ngày hành hình.  Án tử hình này do một vị Vua tên gọi là nghiệp thức xử phạt. Buồn cười thay! quan tòa, bồi thẩm đoàn và luật sư biện hộ lại chính là mình.  Đối với đời sống tiêu biểu là xã hội hiện tại, khi ta phạm tội nặng phải bị xử chết thì còn có ân huệ hơn. Ít ra phạm nhân cũng biết trước giờ xử án và trước khi chết được cho ăn một bữa cơm no, sau khi chết thi thể được cho chôn cất đàng hoàng.  Còn thông thường thì chúng ta phải chịu chết một cách vô định, có khi không hề được cho ăn, sau khi chết tùy theo nghiệp riêng của mỗi người mà được thân quyến tẩn liệm chôn cất đàng hoàng hay là bị vùi sâu thi thể ở nơi u ám không ai biết được, hoặc là bị vứt bỏ xác nơi  sông, hồ, ao, suối, hay  rừng hoang chốn lạnh cả ngàn năm vất vưởng trong cảnh giới u linh.
    Dù vậy chúng ta vẫn được một ân huệ lớn là có Phật tổ Đức Thích Ca Mâu Ni hướng dẫn chúng ta một phương pháp tuyệt vời để tu tập trong giai đoạn cuối cùng của Chánh Pháp. Khiến ta  không phải bị chết, được tự tại ra đi về nơi mình muốn và muốn ra đi bất cứ lúc nào mình thích.  Gần ba ngàn năm nay lời dạy này mới bắt đầu ứng nghiệm bởi một số người tin Phật và nghe lời dạy của ngài. Người ta đã vượt qua được đại dương khổ não, chấm dứt vô minh và thực hiện Niết bàn. Hay nói một cách thực tế là rất nhiều người được bất tử, vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc, thành tựu Thánh quả Phật đà, cứu độ chúng sanh.
    Bấy lâu nay vì phiền não tư hoặc và kiến hoặc chế ngự, vô minh dẫn dắt, chúng ta đã đi trên một tiểu lộ đầy bất trắc, thê lương và khổ não. Do chấp chặt bản ngã, ta lại khởi lòng tham danh lợi. tham ái một cách mê muội. Cố chấp vào thế giới hiện hữu, đã tạo ra vô số nghiệp chướng tham sân từ đời này sang đời khác không bao giờ cùng tận. Lời dạy của đức Phật năm xưa chúng ta nào quan tâm đến: “Hành động của kiếp sống hiện tại là nhân tố của kiếp sống vị lai. Nghiệp thức chứa đầy những chủng tử thiện ác sẽ theo ta mãi mãi cho đến khi nào ta giác ngộ được cuộc đời là mộng ảo. Sự giác ngộ này muốn được thành tựu phải cần có sự giúp đỡ của một bậc thầy”. Vị thầy cao cả nhất được biết đến là chính đức Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật. Ngài là đấng giáo chủ duy nhất của cõi Ta Bà này và là vị Phật đầu tiên trong kỷ nguyên loài người. Vô minh là nguồn gốc của đau khổ, Niết bàn là nơi chấm dứt vô minh. Niết bàn là nơi không còn sự đau khổ hiện hữu.
    Con người nếu thiếu chất liệu tâm linh, sẽ phải vất vả kinh doanh làm ăn, mua bán nơi thương trường để cung phụng cho cái bản ngã vật chất là cái thân thể bất toàn này và những sở hữu của nó là gia đình con cái. Một số khác vô minh hơn phục vụ cho hệ thống ý thức trên con đường làm chính trị vu vơ không lối thoát. Tất cả những điều này đã thiêu rụi hết đời sống của con người trong cái thọ mạng quá ngắn ngủi. Còn đâu nữa để lo cho đời sống tâm linh ? khi biết ra thì đã ô hô rồi. Ngài Đạt Lai Lạt Ma từng khuyên dạy rằng: “Chúng ta là những lữ khách trên hành tinh này. Chúng ta có mặt ở đây nhiều lắm là chín mươi hay một trăm năm. Trong quảng thời gian đó, với cuộc đời của chúng ta, ta phải cố gắng làm những điều tốt lành và ích lợi. Nếu quý vị góp phần vào việc mang lại hạnh phúc cho người khác, quý vị sẽ tìm thấy mục đích chân thật, ý nghĩa thực sự của cuộc đời”. Lời dạy này cho ta hình dung được một cuộc đời ngắn ngủi ta đã không làm gì lợi ich cho ai để có thể thấy ý nghĩa chân thật của nó. Tuy nhiên ngài Đạt Lai Lạt Ma đã không nhấn mạnh đến sanh tử là cái còn quan trọng hơn là “làm lợi ich cho ai đó”. Chúng ta cần phải liễu thoát sanh tử trước, phải vượt qua dòng thát sanh tử này mới nói đến lợi ích cho chúng sanh.  Bởi phàm phu thì không thể làm gì hơn ngoài khả năng của thân xác. Tuy nhiên có còn hơn không.  Vì vậy nếu được chúng ta có thể khổ cực để phục vụ chúng sanh hơn là chỉ phục vụ cho cái cá ngã và những nhu cầu phụ thuộc của nó.
    Nếu chịu khó ngồi xuống tư duy về thân phận của mình thì chúng ta sẽ thấy vô số những điều bất như ý mâu thuẩn đã đến với chúng ta trong cuộc đời này. Những điều này không phải vô cớ đến với ta hay chính ai đó đã tác động  nên. Không phải thế! Chính những hành động của ta trong quá khứ, bị chìm sâu trong vô thức nay được gặp duyên nên nó khơi dậy và làm ta khổ não. Cũng giống như một hạt giống dù để một ngàn năm trong tủ kín hạt giống vẫn là hạt giống. Tuy nhiên nếu ta đem nó ủ phân lấp đất thì tất nhiên nó sẽ lên cây kết trái. Đó là giáo lý nhân duyên của nhà Phật. Vì vậy người hiểu giáo lý của Phật dạy sẽ không trách cứ ai cả. Người duy nhất đáng trách cứ là chính ta. Đức Phật đã từng dạy “kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình” cơ mà.
    Người ta có thể làm lại cuộc sống từ một sự giác ngộ căn bản. Nhưng chúng ta phải có duyên gặp thiện hữu tri thức. Vị thầy giúp chúng ta giác ngộ có thể là một đứa bé hay một vật vô tri giác. Ngày xưa Thiện Tài đồng tử được giác ngộ bước đầu tiên là lúc ngài gặp Đức Vân tỳ kheo. Đức Vân tỳ kheo lúc đó tu hành trên núi cao hàng ngày thường quán sát những đám mây trên núi. Ngài ngộ được núi cao không làm chướng ngại mây mà núi cũng không hề bị thiệt hại bởi mây bay qua. Thiện Tài học được điểm chính yếu là tâm ta cũng phải giống như những đám mây đến đâu cũng  không làm chướng ngại ai và cũng không ai bị phiền toái bởi ta. Đây là giáo lý ứng dụng về lòng khoan dung  mà ta hay mắc phải trong cuộc sống. Nếu người sống được với tâm khoan dung thì sẽ không thấy ai là người làm trở ngại ta và chính ta cũng không thể nào làm hư hoại kẻ khác. Như vậy ta dễ dàng tự tại trong cuộc sống. Còn nhiều điều nữa giúp ta hiểu rằng cuộc sống giác ngộ giúp ta hạnh phúc chứ không phải chỉ tiền tài vật chất giúp ta được hạnh phúc. Đa số loài người đã lầm lẫn điều này nên đổ xô nhau đi tìm cầu vật chất một cách khổ não để mưu cầu cái gọi là hạnh phúc.
    Vì vậy bất cứ giá nào anh cũng phải tập sự giác ngộ trước. Có những bậc thầy xuất gia tầm đạo hơn người đời về phẩm cách đạo đức. Nhưng vì họ ngộ nhận giữa tài năng và đức hạnh tu hành. Nên thay vì làm đạo dựa trên cái đức tu của mình để thành tựu đạo nghiệp họ lại sử dụng cái khôn ngoan của thế tục để được thành công “Chùa to Tượng lớn” Còn phần đạo hạnh của mình thì lại để cho mai một. Thật đáng tiếc thay! Cho nên mặc dù đã làm vị xuất gia trưởng tử của Như Lai không hẳn là chúng ta sẽ được giải thoát sớm. Nếu ta không tu đức hạnh mà chỉ dụng sự thông minh thế tục để được lòng tín đồ thì thật đáng tiếc cho một đời tu. Một tín đồ phải liễu ngộ được đạo pháp. Nên hết lòng hộ trì ngôi Tam Bảo vững mạnh, chứ không phải hạng người chỉ đến Chùa tìm vui mà không hề để tâm học đạo. Quý thầy sẽ chân thật dạy những điều cần thiết để một tín đồ có thể được khai ngộ và duy nhất chỉ cầu thoát ly sinh tử. Một vị chân lương y thế gian không hề nuôi con bệnh đề moi tiền bệnh nhân một cách tàn nhẫn. Đó gọi là “lương y như từ mẫu”. Sứ mạng của một vị Tăng là phải tìm đến nơi những chúng sanh đau khổ, nghèo nàn về tâm linh để giúp đỡ họ hiểu rõ Phật Pháp mầu nhiệm như thế nào? Vì vậy nên tìm đến những nơi hẻo lánh, đô thị nghèo nàn, đầy rẫy những chúng sanh cang cường để độ họ. Không cần thiết phải ở nơi những đô thị lớn  với những tín đồ đông đảo ham vui, nhưng không hề hiểu biết chân lý vì không được ai giáo hóa đúng mức. Ngoại trừ những bậc phước đức quá lớn hoặc bậc Thánh nhân thị hiện hóa đạo.
    Đối với người thế tục chất phát, dù họ đang ở vào địa vị nào của xã hội. Nếu gặp được bậc chân tu đạo hạnh. Họ có thể giác ngộ thành Phật. Biết bao nhiêu cư sĩ tại gia ngày nay nhờ ngộ được pháp môn niệm Phật họ khởi lòng chánh tín tu tập, liền được vãng sanh, trong đó có cả những người đã gây tạo ác nghiệp mà giây phút lâm chung gặp thiện hữu khai thị. Họ phát tâm ăn năn hối lỗi cũng được vãng sanh. Trên đời này quả không có gì tuyệt đối. Vì lẽ Phật dạy chúng sanh đều có Phật tánh. Hễ mê muội tâm mình thì làm chúng sanh, còn giác ngộ thì thành Phật. Phải hiểu thật rõ ý nghĩa của chữ Như Lai. Có nghĩa là bậc tự tại không đi không đến mà vẫn thường trụ khắp mọi nơi, mọi thời. Chúng ta cũng tập như vậy. Nếu tâm buông xả tất cả thì nơi đâu cũng là chỗ ở hạnh phúc của mình.
    Tóm lại, chúng ta phải nên giác ngộ cuộc đời này là huyễn mộng. Phát tâm xả bỏ tất cả, chánh tín niệm Phật cầu vãng sanh thì sớm muộn gì chúng ta cũng thành Bồ tát cõi Tây phương. Chỉ sợ rằng chúng ta chưa giác ngộ, còn quá mê muội thì sự vãng sanh khó đến được. Xả bỏ không hẳn là vứt tiền của qua cửa sổ mà là xả bỏ những mê chấp trong tâm mình. Khi tâm không còn vướng mắc điều gì thì chính lúc đó niềm an lạc sẽ tràn ngập và hạnh phúc sẽ bao la.

    Thiên Thời Khẩn Cấp




    Đối với người đã minh lý, giác ngộ tu đạo thì không còn 4 chữ Thiên thời khẩn cấp, còn đối vời những người chưa minh lý thức tỉnh tu đạo mà nói thì thật sự là Thiên thời khẩn cấp. Vì sao lại nhấn mạnh 4 chữ "Thiên thời khẩn cấp" đây.
    1. Vì Hạo Kiếp Luôn Giáng
    Hạo kiếp luôn giáng xuống thế giới Ta Bà, sự thật đẫm máu này là không có gì nghi ngờ. Tiên Phật e sợ chúng sanh tạo kiếp, cho nên đã nhấn mạnh “Thiên Thời Khẩn Cấp”, nếu như không biết tu đạo thì sinh mệnh khó bảo tồn! nhưng tại sao hạo kiếp sẽ luôn giáng xuống thế gian này đây? Tại vì “Nghịch Thiên Giả Vong”, chúng sanh coi rẽ Thiên Lý Lương Tâm của mình mà đi tạo ra vô số tội nghiệp, dần dần hình thành nên “cộng nghiệp”, nghiệp lực này đã mang lại hạo kiếp, đây chính là Thiên Lý, tự làm tự chịu, hạo kiếp chính là do nhân tâm con người tự chiêu lấy, chứ không phải do Ông Trời tự ý giáng xuống.
    2. Vì Nhân Sanh Vô Thường
    Nhân sanh vô thường chỉ trong một hơi thở, bất luận là ai cũng không có cách nào tránh được, vô thường sẽ đến bất cứ lúc nào không ai biết, và một khi vô thường đến thì chúng ta sẽ mất đi nhân thân. Có câu “Nhân thân nan đắc”, nếu như chúng ta không biết mượn giả tu chân, khi vô thường đến “Vừa mất nhân thân, vạn kiếp nan phục”. Chỉ do nghiệp chướng của lũy kiếp vẫn chưa trả hết, cho nên chỉ có nhanh chóng “Mượn giả tu chân” thì mới có thể an nhiên siêu thoát lúc vô thường đến tìm chúng ta. Nếu bằng không chúng ta sẽ vĩnh viễn trầm luân trong biển khổ. Chúng ta cũng biết là vô thường sẽ đến bất cứ lúc nào cho nên mới gọi là “Thiên thời khẩn cấp” là vậy.
    3. Vì Chúng Sanh Mê Mụi Quá Sâu Nặng
    Bổn tánh chúng sanh mê mụi quá thâm sâu, tập tính nghiệp chướng quá nặng. Nếu như chuyển mê thành ngộ thì sẽ tiêu trừ nghiệp chướng, phục hồi lại sự thanh tịnh. Thời gian để làm việc này khó mà biết trước được. Có thể là ngay trong lúc này, có lẽ 3 hay 5 năm, cũng có thể là 10 hay 20 năm và cũng có thể là cả đời, tất cả là do tạo hóa của chúng ta. Nếu như hôm nay hạo kiếp luôn giáng không ngừng, sinh mệnh vốn vô thường, mà chúng ta trong lúc đang vô tri mê mụi mà cũng không biết nhanh chóng thức tỉnh tu đạo e rằng cũng không còn kịp nữa, cho nên nói là “Thiên thời khẩn cấp” là vậy.
    Đối với người chân tu thực luyện đã minh lý thì không còn 4 chữ “Thiên thời khẩn cấp”. Tại vì họ đã sớm giác ngộ, chỉ có “Đạo” mới có thể hóa “Kiếp”, chỉ có minh lý mới có thể tiến nhập vào chân tu thực luyện, chỉ có “Chân công thực luyện” mới có thể siêu thoát nhân sinh vô thường, chỉ có tinh tấn tu bàn Đạo mới có thể phục hồi lại bổn lai Phật tánh, là do trong từng giây phút họ đã sớm tu trì, vả lại còn phát huy tâm từ bi mà độ hóa chúng sanh, siêng hành tam thí, do đó thiên thời đối với họ mà nói, mỗi một phút một giây đều rất khẩn cấp, tại vì những lúc như thế họ đều đang tu. Và mỗi một phút một giây đối với họ mà nói cũng không còn gấp, tại vì họ đã sớm nắm bắt thời gian ngay lúc đó.
    Chúc phúc, phần chúc phúc này nhất định ở trên tay chúng ta, hãy ghi nhớ lời nói của Lão Sư “Cố gắng tu đạo, cố gắng bàn đạo”, Cái duyên Thầy trò này sẽ mãi mãi vĩnh viễn. Đồ nhi ơi! Hãy kêu gọi thức tỉnh tâm linh của mình đã ngủ sâu lâu nay, hãy tìm về bản thân. Đồ nhi sớm tối đang vì danh lợi mà đấu tranh, nếu bây giờ đã loại bỏ mệt mỏi này rồi, chỉ có đối mặt với Thầy một cách chân tình, con sẽ thực sự đạt được sự chúc phúc của Thầy. Làm Thầy luôn hy vọng đồ nhi có thể minh lý, hy vọng con sẽ phát triển, hy vọng con có thể phá tan xiềng xích của trần tục. Ngày tháng không đợi một ai, phải cố gắng tích cực mà tu đạo bàn đạo để mà thay đổi bản thân mình, hãy nắm bắt lấy lời chúc phúc này trong tay, và hãy lấy lời chúc phúc này mà chuyển lại cho người khác. Thấy Đồ nhi ngoan ngoãn nghe lời, Thầy đây cũng rất an tâm, nhưng làm người không phải chỉ ngoan ngoãn không, mà phải thành thật chân chính với chính mình. Cố gắng tu đạo bàn đạo, phải siêng năng đi suốt cuộc đời của nhân sanh, mỗi một ngày trôi qua đều phải siêng năng, như vậy mỗi ngày các con mới có thể có hy vọng, mới có thể có một tương lai tươi sáng.